Search Contact Us Bookmark this page Admin
Sắc đẹp & Phong cáchUng thư và Phòng ngừaLối sống lành mạnhSức khỏe tinh thần và stressGiới tính Nam/NữChủ đề nóng bỏng
SiteMaps 탐색 건너뛰기 링크Hidoc Home > Ung thư và Phòng ngừa > Điều trị ung thư
Điều trị ung thư
Ung thư đại tràng
[2007-08-30 03:54] (2,773)

Ung thư đại tràng là một loại ung thư có khối u ác tính mọc ở đại tràng. Ung thư đại tràng là một loại ung thư phổ biến ở Tây Âu. Ở Mỹ, số người mắc bệnh ung thư đại tràng đứng thứ ba trong số các bệnh ung thư khác và số người tử vong do bệnh này gây ra đứng thứ hai. Ở Hàn Quốc, con số này thấp hơn so với Tây Âu, số người mắc bệnh ung thư đại tràng, bất kể nam nay nữ, xếp thứ tư so với các bệnh ung thư khác.

 

Cách sống và các yếu tố môi trường dần dần bị tây phương hóa, vì vậy, ung thư đại tràng cũng tăng. Nguyên nhân dẫn đến bệnh ung thư vẫn chưa xác định rõ, nhưng người ta cho biết rằng ung thư đại tràng nảy sinh do hai yếu tố chính: yếu tố di truyền và yếu tố môi trường. Ung thư đại tràng cũng có thể được phòng ngừa ở một góc độ nào đó bằng cách loại bỏ những yếu tố nguy hiểm. Bệnh này có thể gây ra những triệu chứng khác nhau, nhưng không có triệu chứng nào cụ thể. Một số trường hợp sau đây được cho là ung thư đại tràng:

 

- Trường hợp bạn bị táo bón hoặc tiêu chảy quá lâu

- Trường hợp dạ dày bạn đau thương xuyên

- Trường hợp phân bạn loãng

- Trường hợp bạn đi cầu ra máu

- Trường hợp bạn cảm thấy không được nhẹ nhõm sau khi đi vệ sinh.

 

Ngoài những trường hợp được đề cập trên đây, biếng ăn, mệt mỏi không rõ nguyên nhân, và thiếu máu là những triệu chứng cơ bản của ung thư đại tràng. Tuy nhiên, bệnh ung thư này cần phải được kiểm tra cẩn thận vì những triệu chứng của nó cũng biểu hiện ở những căn bệnh ung thư khác có liên quan đến ruột như trực tràng và hậu môn. một vài trường hợp, căn bệnh không biểu hiện một triệu chứng nào mặc cho căn bệnh đã phát triển quá nặng. Ung thư đại tràng có thể được chẩn đoán bằng cách khám nghiệm trực tràng bằng kỹ thuật số, chụp trực tràng, nội soi trực tràng và sinh thiết. Một khi ung thư trực tràng được chẩn đoán, sự phát triển của căn bệnh được phân tích qua chụp siêu âm, nội soi bằng CT, bằng MRI và một số phương pháp trị liệu khác. Phẫu thuật thường được áp dụng. Ung thư đại tràng, cũng như các loại ung thư khác, có thể được điều trị kịp thời nếu như nó được phát hiện sớm. Ở một số trường hợp, ung thư đại tràng có thể điều trị bằng nội soi đại tràng mà không cần phẫu thuật bụng. Trong trường hợp ung thư phát triển từ giai đoạn 1 đến giai đoạn 3, thuốc chống ung thư hoặc bức xạ trị liệu có thể được dùng thêm để phòng ngừa căn bệnh tái phát. Bệnh nhân điều trị bằng phẫu thuật nên đi khám định kì để có thể theo dõi căn bệnh.

 

Triệu chứng

 

Ung thư đại tràng biểu hiện nhiều triệu chứng khác nhau, nhưng không có triệu chứng nào cụ thể. Nhiều trường hợp ung thư không biểu hiện triệu chứng nào. Trong trường hợp bạn bị táo bón hoặc tiêu chảy quá lâu, dạ dày thường xuyên đau, phân loãng, đi cầu ra máu, và bạn cảm thấy không được nhẹ nhõm sau khi đi vệ sinh. Nếu một trong những triệu chứng này xuất hiện ở người có độ tuổi trên 40, người đó nên đi kiểm tra. Tuy nhiên, ung thư ruột già cần phải được kiểm tra cẩn thận vì những triệu chứng này cũng biểu hiện ở những căn bệnh có liên quan đến ruột già như trực tràng và hậu môn. Ngoài những trường hợp được đề cập trên đây, giảm cân, biếng ăn, mệt mỏi không rõ nguyên nhân, và thiếu máu là những triệu chứng căn bản của ung thư ruột già. Triệu chứng cũng biểu hiện khác nhau tùy theo vị trí, hình dạng, quá trình phát triển của căn bệnh cũng như sự tắc ruột.

Ví dụ, ung thư đại tràng và trực tràng làm bạn đi cầu ra máu. Ung thư đại tràng trái cũng làm bạn đi cầu ra máu và ung thư đại tràng phải (kết tràng lên) gây ra chảy máu ẩn và bạn mắc chứng bệnh thiếu máu. Trong những trường hợp như vậy, xét nghiệm Hemoccult sẽ giúp bạn chẩn đoán bệnh. Ở một vài trường hợp, bệnh nhân có thể cảm giác được những khối u này. Trường hợp khối u làm ruột bạn tắc nghẽn, dạ dày bạn sẽ đau quằn quại, bụng bạn căng phồng ra, và ruột co thắt. Ung thư đại tràng trái (bao gồm kết tràng xuống, kết tràng sigma và trực tràng) gây táo bón, tiêu chảy và ung thư quanh hậu môn như ung thư kết tràng sigma và ung thư trực tràng làm phân loãng và vì vậy bệnh nhân cảm thấy khó khăn mỗi khi đi vệ sinh. Trường hợp ung thư đại tràng di căn vào gan, bệnh nhân sẽ cảm thấy đau ở khu vực thượng vị và có thể mắc chứng bệnh vàng da. Trường hợp ung thư lan đến màng bụng, bụng bạn sẽ căng phồng ra. Nếu như ung thư lan ra phổi, bệnh nhân sẽ bị khó thở và ho. Trường hợp ung thư lan đến màng phổi, bệnh nhân sẽ cảm thấy khó thở và tức ngực.

 

Chẩn đoán

 

Quá trình khám phá ra căn bệnh ung thư đại tràng được phân thành các giai đoạn sau: xét nghiệm, chẩn đoán, và theo dõi kết quả kiểm tra. Xét nghiệm giúp khám phá ra bệnh hoặc khối u mà chưa hoặc không biểu hiện triệu chứng. Xét nghiệm giúp bệnh nhân khám phá ra căn bệnh khi nó vẫn chưa phát triển nặng, vì thế bệnh nhân có thể điều trị kịp thời.

 

(1) Xét nghiệm

Xét nghiệm là một hình thức giúp bệnh nhân chẩn đoán ra căn bệnh của mình mà không phải tốn kém quá nhiều và xét nghiệm còn được áp dụng để khám phá ra những căn bệnh khác, không chỉ riêng ung thư đại tràng. Người ta khuyên những người  trên 50 tuổi nên chọn một trong những xét nghiệm sau:

 

A. Xét nghiệm Hemoccult

Thông thường, ung thư đại tràng thường gây chảy máu, chính vì thế bạn nên thử nghiệm máu. Trường hợp xét nghiệm Hemoccult cho bạn kết quả dương tính, bạn nên kiểm tra kỹ kết quả xét nghiệm để có thể chẩn đoán đúng căn bệnh. Chúng tôi khuyên những người ở độ tuổi nói trên nên làm xét nghiệm hàng năm. Nếu xét nghiệm Hemoccult cho bạn kết quả dương tính, khả năng chẩn đoán khối u chiếm từ 30 đến 50% và khả năng chẩn đoán ung thư đại tràng chỉ chiếm 3 đến 5%. Nói cách khác, nếu kết quả xét nghiệm của bạn là dương tính, điều này có nghĩa là bạn không mắc chứng bệnh ung thư ruột già. Hơn nữa, nếu kết quả xét nghiệm của bạn là âm tính, điều này có nghĩa là điều kiện sức khỏe của bạn không tốt. Khoảng 20 đến 60% bệnh nhân mắc bệnh ung thư ruột già có kết quả xét nghiệm âm tính. Nếu kết quả xét nghiệm là dương tính, chúng tôi khuyên bạn nên đi nội soi đại tràng. Nếu bạn không thể nội soi đại tràng, bạn nên đi chụp x-quang kết tràng và kết tràng sigma.

 

B. Xét nghiệm kết tràng sigma

Kết tràng sigma được xét nghiệm bằng cách dùng đèn nội soi có kích thước ngắn, mỏng và mềm dẻo.

- Ưu điểm: Máy được dùng để nội soi đại tràng.

- Nhược điểm: Nói chung, rất khó kiểm tra đại tràng, và có nhiều trường hợp, máy không phát hiện ra căn bệnh.

Chúng tôi khuyên những ai quan tâm đến vấn đề này nên làm xét nghiệm kết tràng sigma 5 năm 1 lần. Trường hợp bạn khám phá ra khối u, bạn nên thực hiện sinh thiết. Nếu như khối u được xác nhận là u tuyến, bạn nên đi nội soi đại tràng.

 

C. Xét nghiệm Hemoccult và xét nghiệm kết tràng sigma cùng lúc

- Ưu điểm: Bạn nên xét nghiệm Hemoccult mỗi năm và xét nghiệm kết tràng 5 năm 1 lần. Nếu bạn có thể phối hợp giữa hai loại hình xét nghiệm trên thì thật là tốt.

- Nhược điểm: Không có lý thuyết nào chứng tỏ việc phối hợp giữa hai loại hình xét nghiệm trên là tốt so với làm một loại hình xét nghiệm. Thật ra phối hợp hai loại hình xét nghiệm này rất bất tiện, nguy hiểm và đắt.

 

D. Chụp x-quang đại tràng

Thức ăn của những bệnh nhân mắc chứng bệnh này rất giới hạn. Ruột họ được lau chùi bằng thuốc nhuận trường và dung dịch bari. Không khí cũng được truyền vào ruột qua đường hậu môn và phần trong của ruột được rọi bằng x-quang. Chúng tôi khuyên những ai quan tâm đến vấn đề này nên đi chụp x-quang đại tràng từ 5 đến 10 năm 1 lần.

- Ưu điểm: Nói chung bác sĩ có thể theo dõi ruột một cách dễ dàng và chính xác. Khối  có cu vi từ 1cm trở lên có thể được phát hiện.

- Nhược điểm: Khối có chu vi nhỏ rất khó phát hiện và đôi lúc nó có thể bị chẩn đoán sai. Khi bạn phát hiện ra khối u hoặc ung thư biểu mô ở đại tràng, bạn có thể nội soi đại tràng lại lần nữa.

Trường hợp bạn chụp x-quang đại tràng và xét nghiệm kết tràng sigma cùng lúc, kết quả sẽ chính xác hơn nhưng nó sẽ để lại nhiều nhược điểm.  

 

E. Nội soi đại tràng

- Ưu điểm: Nói chung đại tràng sẽ được theo dõi bằng cách dùng máy nội soi đại tràng. Khối u và ung thư biểu mô sẽ được phát hiện. Nếu có nhu cầu, mô có thể được cắt ra để xét nghiệm. Tương tự như vậy, khối u có thể được cắt bỏ (dùng máy nội soi để phẫu thuật cắt bỏ khối u). Ở một số trường hợp, ung thư đại tràng ở thời kỳ đầu có thể được điều trị.

- Nhược điểm: Nội soi ruột già rất bất tiện cho bệnh nhân, và nó cũng gây ra nhiều rủi ro.

Chúng tôi khuyên những ai quan tâm đến vấn đề này nên đi nội soi ruột già 10 năm 1 lần. Bảng 1 bên dưới cho thấy một số ưu điểm và nhược điểm của mỗi lần kiểm tra. Một phương thức kiểm tra đơn sơ sẽ không cho kết quả chính xác, trong khi một phương thức kiểm tra cho kết quả chính xác lại gây bất tiện và không tốt cho bệnh nhân, một phương thức được coi là hoàn hào thì vẫn chưa được khám phá. Bệnh nhân nên chọn cho mình một phương pháp thích hợp cho sau khi tham khảo ý kiến bác sĩ.

 

[Bảng 1] Ưu điểm và nhược điểm của xét nghiệm

 

Xét nghiệm

Hiệu quả

Tin cậy

Rủi ro

Xét nghiệm Hemoccult

Ung thư đại tràng: Trung bình
Khối u: Nhỏ

Cao

Thấp nhất

Xét nghiệm kết tràng sigma

Cao

Trung bình

Trung bình

Xét nghiệm Hemoccult và xét nghiệm kết tràng sigma

Tương đương với xét nghiệm từng loại riêng biệt 

Trung bình

Trung bình

Chụp x-quang đại tràng

Cao

Thấp

Trung bình

Nội soi đại tràng

Cao nhất

Thấp

Cao nhất

 

(2) Chẩn đoán và theo dõi kết quả xét nghiệm

Chẩn đoán tách biệt bệnh nhân mang bệnh khỏi người khỏe mạnh dựa trên kết quả xét nghiệm và triệu chứng căn bệnh. Theo dõi kết quả xét nghiệm là theo dõi bệnh nhân nếu như họ có một tiểu sử về bệnh ung bướu, ung thư đại tràng, viêm ruột…, hoặc là những người có nguy cơ bị ung thư. Trường hợp người có nguy cơ mắc bệnh rất cao, họ nên xác định cho mình một phương pháp, thời gian và theo dõi kết quả xét nghiệm một cách đều đặn ngay sau khi tham khảo ý kiến bác sĩ. Bên cạnh việc theo dõi tiểu sử và xét nghiệm cơ thể, bạn nên chẩn đoán và theo dõi bệnh ung thư đại tràng qua các phương pháp xét nghiệm sau đây.

 

A. Khám nghiệm trực tràng bằng kỹ thuật số

Bác sĩ khám hậu môn và trực tràng bằng kỹ thuật số và biện pháp khám bệnh này cũng rất hữu dụng trong việc chẩn đoán ung thư đại tràng.

 

B. Chụp x-quang đại tràng

Phương thức khám nghiệm này giúp bác sĩ dễ dàng theo dõi đạc điểm chung của đại tràng và có thể khám phá phần thương tổn dựa trên sự thay đổi về hình dạng ruột. Đồng thời, vị trí, kích thước, hình dạng khối u cũng được phân tích một cách dễ dàng

 

C. Nội soi đại tràng

Nội soi đại tràng và sinh thiết rất cần thiết. Nội soi đại tràng giúp bác sĩ phân tích một cách chính xác vị trí, kích thước, số lượng, hình dạng khối u nằm ở đại tràng và trong trường hợp cần thiết, sinh thiết có thể thực hiện cùng một lúc. Ở một số trường hợp, khối u cũng như ung thư đại tràng ở thời kì đầu có thể được điều trị.

 

D. Sinh thiết

Cách khám nghiệm này được thực hiện bằng cách dùng kính hiển vi để theo dõi các mô nhỏ, giúp cho việc phân tích đặc điểm của khối u.

 

(3) Giai đoạn bệnh

Sau khi được chẩn đoán bằng những phương thức khám nghiệm nêu trên, bạn có thể thực hiện một trong những phương thức khám nghiệm sau để có thể phân tích tiến trình phát triển của ung thư. Những phương thức xét nghiệm này không thích hợp cho việc kiểm tra các căn bệnh đường ruột, nhưng nó cũng rất cần thiết trong việc phân tích sự thâm nhập và di dời của căn bệnh. Kết quả cho thấy, phương pháp trị liệu thích hợp và việc chẩn đoán tùy thuộc vào:

 

- Chụp siêu âm bụng

- Nội soi bụng bằng CT

- Nội soi bằng MRI

- Nội soi xương đồng vị

- Chụp siêu âm trực tràng Transanal

 

Ngoài những cách thức nêu trên, bạn có thể thực hiện những phương thức kiểm tra dưới đây để đánh giá được những rủi ro khi phẫu thuật và gây mê, và nó cũng tiện lợi cho việc việc theo dõi sau khi phẫu thuật. Bệnh nhân cao tuổi, và trong trường hợp kết quả khám nghiệm không tốt, bạn cần phải thực hiện thêm một số các khám nghiệm khác.

 

- Kiểm tra x-quang ngực

- Chụp x-quang tim

- Kiếm tra máu và phân tích nước tiểu

- Máy kiểm tra ung thư gồm cả kháng nguyên ung thư thai

 

Nếu bệnh ung thư đại tràng không giảm sau một thời gian điều trị, và ung thư biểu mô ngày càng lan ra phần trong của ruột và thâm nhập vào thành ruột, và cuối cùng lan ra những bộ phận lân cận cũng như các bộ phận xa qua đường máu hoặc các ống dẫn bạch huyết. Thành ruột gồm 4 lớp.

 

A. Niêm mạc

- Biểu mô

- Lớp mô Propria

B. Hạ niêm

C. Áo cơ Propria

D. Màng thanh dịch

 

Ở phần giữa và phần cuối của trực tràng không có màng thanh dịch. Có một lớp cơ mỏng con được gọi là “Lớp cơ niêm mạc” nằm ở giữa niêm mạc và hạ niêm. Cũng giống như những căn bệnh ung thư khác, xác định tiến trình phát triển của bệnh  ung thư còn được gọi là “phân đoạn”. Tiên lượng bệnh có thể được dự đoán trước và bạn có thể chọn cho mình một phương pháp trị liệu thích hợp theo giai đoạn thích hợp. Vì vậy, phân đoạn là một quá trình quan trọng đứng kế việc khám nghiệm ung thư đại tràng.

 

A. “Yếu tố T” cho thấy mức độ xâm nhập.

B. “Yếu tố N” cho thấy mức độ di căn của hạch bạch huyết.

C. “Yếu tố M” cho thấy mức độ di căn xa.

 

Dựa vào 3 trường hợp vừa nêu trên, người ta có thể xác định được giai đoạn ung thư. Người ta phân loại ung thư đại tràng theo tiêu chuẩn quốc tế như sau:

 

A. Phân loại Dukes (Astler – Coller): Tiến trình phát triển của bệnh ung thư có thể biểu thị bằng các chữ viết hoa như: A, B, C và D

B. Phân loại AJCC (Ủy ban liên doanh về ung thư của Mỹ) và phân loại TNM của UICC (Union Internationale Contre le Cancer): Tiến trình phát triển của bệnh ung thư có thể biểu thị bằng I, II, III, và IV.

 

Hai phân loại trên có kết quả tương đối giống nhau

 

Phân đoạn có thể thực hiện bởi những phương pháp khác nhau ngay cả trước khi phẫu thuật, còn được gọi là (giai đoạn tiền phẫu thuật) và phương pháp trị liệu tối ưu nhất có thể được chọn lựa tùy theo phân đoạn. Mặt khác, phân đoạn cũng có thể thực hiện bằng cách xem xét mô. Sau khi phẫu thuật, mô này được cắt bằng kính hiển vi, còn được gọi là (giai đoạn hậu phẫu). Đây là phương pháp quan trọng nhất trong việc chọn ra một phương pháp trị liệu hoặc chẩn đoán thích hợp.

 

A. Yếu tố T (Ung thư)  

a. T0: Không có dấu hiệu ung thư.

b. T1: Ung thư đại tràng vẫn còn giới hạn ở niêm mạc và hạ niêm.

c. T2: Ung thư đại tràng đã thâm nhập vào áo cơ Propira.

d. T3: Ung thư đại tràng đã thâm nhập vào màng thanh dịch hoặc trực tràng.

e. T4: Ung thư đại tràng đã thâm nhập vào các bộ phận lân cận.

 

B. Yếu tố N (Hạch bạch huyết)

a. N0: Chưa có di căn đến hạch bạch huyết.

b. N1: Từ 1 đến 3 hạch bạch huyết đã được di căn.

c. N2: Từ 4 hạch bạch huyết trở lên đã di căn.

d. N3: Một số hạch bạch huyết không điển hình hoặc một số loại điển hình quanh mạch máu dày đã di căn.

 

C. Yếu tố M (Di căn)

a. M0: Không có dấu hiệu di căn xa

b. M1: Có dấu hiệu di căn xa.

 

Ung thư đại tràng có khối u mọc ở niêm mạc, còn được gọi là “ung thư niêm mạc”. Ung thư niêm mạc thuộc loại ung thư mô học gây bệnh, nhưng nó được phân loại “0” vì tiến trình phát triển của nó là dương tính. Ung thư đại tràng xâm nhập vào hạ niêm còn gọi là “ung thư đại tràng phát triển ở giai đoạn đầu”. Ung thư đại tràng phát triển ở giai đoạn đầu có thể chữa trị.

 

A. Phân loại AJCC và TNM của UICC

a. Giai đoạn I: Ung thư đại tràng mọc ở niêm mạc xâm nhập vào hạ niêm và áo cơ Propria nhưng không bị cắt ngang qua thành ruột.

- Giai đoạn IA: Ung thư đại tràng xâm nhập vào hạ niêm (T1 N0 M0)

- Giai đoạn IB: Ung thư đại tràng xâm nhập vào áo cơ Propria (T2 N0 M0)

b. Giai đoạn II: Ung thư đại tràng cắt ngang qua niêm mạc nhưng chưa di căn đến hạch bạch huyết (T3 N0 M0)

c. Giai đoạn III: Ung thư đại tràng xâm nhập trực tiếp vào các cơ quan lân cận (T4 N0 M 0) hoặc di căn vào hạch bạch huyết quanh khối u cũng như chưa di căn đến các cơ quan xa (Bất kể T N1 - 3M0)

d. Giai đoạn IV: Ung thư đại tràng đã di căn vào gan, phổi, màng bụng, xương và buồng trứng (Bất kể T bất kể N M1)

 

B. Phân loại Dukes (kết hợp bởi Astle – Coller)

a. Giai đoạn A: Ung thư đại tràng giới hạn trong khu vực niêm mạc

b. Giai đoạn B

- Giai đoạn B1: Ung thư đại tràng xâm nhập vào áo  cơ Propria

- Giai đoạn B2: Ung thư đại tràng cắt ngang niêm mạc

c. Giai đoạn C

- Giai đoạn C1: B1 + di căn vào hạch bạch huyết

- Giai đoạn C2: B2 + di căn vào hạch bạch huyết

- Giai đoạn C3: B3 + di căn vào hạch bạch huyết

d. Giai đoạn D: Di căn xa

 

(4) Kiểm tra mô học gây bệnh

Sau khi ung thư đại tràng được cắt bỏ bằng phẫu thuật, bác sĩ sẽ theo dõi vị trí, kích thước và hình dạng của khối u bằng mắt trần và sắp xếp lại mô bằng dung dịch fomalin. Mô sắp xếp được đặt vào trong dung dịch parafin và được cắt ra từng miếng mỏng. Sau đó, bác sĩ sẽ phân tích độ sâu của việc xâm nhập, mẫu mô học, mô hình xâm nhập và di căn của căn bệnh. 

 

A. Hình dạng

Tùy theo từng hình dạng, ung thư đại tràng được phân loại như sau: khối u, nổi sùi, gây loét, gây loét và nổi sùi, và thâm nhiễm.

 

B. Mô hình thâm nhiễm

Khối u nằm ở giữa khối u và tuyến được phân loại như sau: lây lan, lây lan và thâm nhiễm, thâm nhiễm.

 

C. Hình dạng

Mô của tế bào ung thư được tổ chức sức khỏe thế giới phân loại như sau:

a. Ung thư tuyến

b. Ung thư tuyến gai

c. Ung thư tuyến tiểu quản

d. Ung thư tuyến nhầy

e. Ung thư tế bào biểu mô Signet Ring

f. Ung thư tế bào Adenosquamous

g. Ung thư tế bào nhỏ

 

D. Biệt hóa tế bào

Biệt hóa tế bào ung thư được phân loại như sau:

a. G1: Denocarcinoma được biệt hóa tốt

b. G2: Ung thư tuyến được biệt hóa trung bình

c. G3: Ung thư tuyến được biệt hóa kém

d. G4: Ung thư biểu mô không được biệt hóa

 

Ngoài phân loại trên, một số trường hợp được áp dụng như sau:

 

a. H (Cao): G1 và G2

b. L (Thấp): G3 và G4

 

E. Lan vào mạch máu

Trường hợp khối u biểu mô lan vào mạch máu hoặc mạch bạch huyết, tiên lượng bệnh xấu đi. Bác sĩ nên kiểm tra và báo cáo kết quả.

 

Tiến trình phát triển và tiên lượng bệnh

 

Cũng như các bệnh ung thư khác phát sinh ở các cơ quan tiêu hóa, tiên lượng ung thư đại tràng là một điều rất cần thiết. Bác sĩ không thể phân tích hết mọi tiên lượng bệnh nhưng dù sao họ có thể theo dõi lịch sử căn bệnh và nghiên cứu những yếu tố khác nhau ảnh hưởng đến tiên lượng bệnh. Tuy nhiên, kết quả họ tìm ra không  không nên áp dụng cho tất cả bệnh nhân vì đây chỉ là một con số nhỏ đúc kết được từ nhiều bệnh nhân. Mặc dù căn bệnh của bạn có thể bình phục và điều trị hẳn,  nhưng bạn phải dùng cụm từ “điều trị hoàn toàn” thay vì dùng cụm từ “bình phục hoàn toàn”. Vì bệnh có thể tái phát. Thông thường, giai đoạn ung thư ảnh hưởng rất nhiều tiên lượng bệnh. Giai đoạn ung thư càng cao thì tiên lượng bệnh càng xấu. Tiên lượng thường cho thấy tỉ lệ sống còn của bệnh nhân là 5 năm nữa. Con số này cho thấy bệnh nhân chỉ có thể sống thêm được 5 năm nữa. Trong khoảng thời gian này, nếu không có vấn đề gì sảy ra, điều này chứng tỏ bạn đã hoàn toàn bình phục. Tỉ lệ tuổi thọ ở giai đoạn A (hoặc I) chiếm 90%, giai đoạn B (II) chiếm 60%, và giai đoạn III là 40%. Tỉ lệ tuổi thọ là 5 năm ở giai đoạn D (IV), có di căn xa chiếm dưới 5%. Tiên lượng ung thư đại tràng khác hẳn với bướu lồi. Trường hợp khối u lồi nhìn thấy bằng mắt thường, nó có thể được phân loại “R2”. Nếu như nó phải nhìn qua kính hiển vi, nó có thể được phân loại “R1”. Nếu như không có bứu, phân loại của nó sẽ là “R0”. Trường hợp R2 và R1, những yếu tố sau sau sẽ ảnh hưởng đến tiên lượng bệnh:

 

- Di căn xa

- Bướu lồi xa khu vực chính

- Điều kiện sức khỏe bệnh nhân yếu do ảnh hưởng nhiều di căn xa.

 

Trường hợp R0, yếu tố sau ảnh hưởng đến tiên lượng bệnh:

 

- Giai đoạn (thời kì)

- Biệt hoá tế các bào ung thư

- Di căn vào mạch

 

Ngoài trường hợp nói trên, yếu tố dưới đây có thể ảnh hưởng đến tiên lượng bệnh.

 

- Ung thư trong trực tràng

- Ung thư cần phải cắt bỏ hoặc che lấp

- Thâm nhiễm qua mạch bạch huyết hoặc dây thần kinh

- Trường hợp mép của ung thư bị thâm nhiễm

- Trường hợp không có Lymphô bào quanh bướu

- CEA cao

 

Biến chứng

 

Nếu ung thư đại tràng không được điều trị kịp thời, một số biến chứng sau có thể nảy sinh

 

A. Chảy máu là biến chứng thông thường nhất. Máu chảy với số lượng không nhiều mà nó chảy liên tục với số lượng rất ít.

B. Tắc ruột chiếm tỉ lệ cao sau chảy máu. Ung thư đại tràng làm ruột tắt nghẽn, nhưng hiếm có trường hợp gây ra lồng ruột.

C. Rất hiếm có trường hợp kối u bị bể và gây viêm phúc mạc cũng như gây tụ mủ cục bộ quanh khối u.

D. Khối u có thể ảnh hưởng đến các cơ quan bên cạnh chẳng hạn như bàng quang hoặc thận.

E. một số trường hợp, khối u thâm nhập vào các cơ quan như bàng quang và thận và ảnh hưởng đến các cơ quan này.

 

Điều trị

 

Ở xã hội Hàn Quốc, bệnh nhân cũng như gia đình không chủ động tham gia vào việc chọn cho mình một phương pháp trị liệu. Thay vì đặt hết niềm tin vào ý kiếm bác sĩ, họ lại mù quáng áp dụng những biện pháp điều trị dân gian hoặc những biện pháp chữa bệnh không cơ sở. Gần đây,một số đông đã tham khảo ý kiến bác sĩ về những phương pháp trị liệu và tiên lượng bệnh và họ đã thu thập được một số thông tin về căn bệnh họ mang trong người. Điều này làm cho xã hội thay đổi. Hiện tượng này giúp bác sĩ điều trị bệnh kịp thời, đồng thời giúp bệnh nhân hiểu biết về tình trạng căn bệnh và có thể hợp tác với bác sĩ trong việc điều trị. Chính vì lí do này mà có rất nhiều bác sĩ sẵn sàng giải thích tình trạng căn bệnh và sức khỏe cho bệnh nhân của họ. Nếu có thể được, gia đình, bạn bè bệnh nhân có thể tham dự vào việc soạn thảo một dự án trị liệu. Bác sĩ có thể nói cho bệnh nhân tất cả những gì có liên quan đến căn bệnh chẳng hạn về tình trạng căn bệnh (Vị trí khối u, giai đoạn, điều kiện chung…), phương pháp trị liệu tốt nhất, ưu điểm và nhược điểm của mỗi phương pháp điều trị, phản ứng tiêu cực, biện pháp đối phó.

 

(1) Phương pháp trị liệu

Phẫu thuật, bức xạ, thuốc chống ung thư, miễn dịch, đèn nội soi là những phương pháp trị liệu điển hình dùng để điều trị ung thư đại tràng. Tuy nhiên, chữa trị bằng giải phẩu là một phương pháp tiêu biểu vì nó đem lại hiệu quả cao so với những phương pháp khác. Phương pháp trị liệu được chọn ra dựa trên những yếu tố sau:

 

- Vị trí ung thư

- Giai đoạn

- Điều kiện chung

- Hoạt động xã hội

- Uớc muốn của bệnh nhân cũng như gia đình

 

A. Phẫu thuật

Phẫu thuật thường được dùng rộng rãi trong việc điều trị ung thư đại tràng. Ở một số trường hợp, khu vực có khối u biểu mô phải được cắt bỏ và hai đầu của phần còn lại phải được nối với nhau (Nối mạch) và hạch bạch huyết quanh khối u biểu mô cũng được cắt bỏ. Mặc dù ruột được cắt bỏ khá nhiều, nhưng bệnh nhân vẫn có thể hoạt động bình thuờng mà không bị ảnh hưởng gì. Lý do hạch bạch huyết được cắt bỏ là để phòng ngừa mạch có thể di căn. Tương tự, tiến trình phát triển cũng như giai đoạn phát triển của bệnh cũng được phân tích chính xác qua mô được cắt. Người ta thường áp dụng phẫu thuật để cắt bỏ khối u, và con số này chiếm khoảng 87%, nhưng trong trường hợp ung thư đã quá lớn, bạn phải dùng bức xạ trị liệu hoặc hóa học trị liệu trước khi phẫu thuật. Thêm vào đó, phẫu thuật cắt bỏ khối u được thực hiện bằng phương pháp nói trên. Phương pháp phẫu thuật được chọn lọc dựa vào vị trí khối u, giai đoạn, điều kiện sức khỏe và tuổi tác của bệnh nhân. Sau đây là một số phương thức phẫu thuật điển hình. Nếu bạn muốn biết thêm chi tiết, xin vui lòng liên hệ phòng khám Ruột và Hậu Môn.

 

a. Phẫu thuật cắt nửa đại tràng bên phải: Biện pháp phẫu thuật này được thực hiện khi khối u biểu mô nằm bên phải, góc dưới gan, và kết tràng ngang. Phần nửa đại tràng phải, phần cuối của ruột non và phần ruột non nối với ruột già bị ung thư nặng.

b. Phẫu thuật cắt nửa đại tràng bên trái: Biện pháp phẫu thuật này được thực hiện khi khối u biểu mô nằm bên trái hoặc góc dưới gan, kết tràng ngang, kết tràng xuống. Phần nửa đại tràng trái được cắt bỏ và hai đầu ruột được nói lại với nhau.  

c. Phẫu thuật cắt bỏ kết tràng ngang: Biện pháp phẫu thuật này được thực hiện khi khối u biểu mô nằm ở kết tràng ngang. Kết tràng ngang được cắt bỏ và hai đầu ruột được nối lại với nhau. Trong trường hợp cần thiết, có thể tiến hành phẫu thuật cắt bỏ thêm nửa đại tràng để có thể cắt bỏ khối u biểu mô.

d. Phẫu thuật cắt bỏ đại tràng trên: Biện pháp phẫu thuật này được thực hiện khi khối u biểu mô nằm ở kết tràng sigma. Sau khi phẫu thuật mở vùng bụng, khối u biểu mô ở kết tràng sigma được cắt bỏ và phần đầu của kết tràng sigma hoặc kết tràng xuống được nối lại với trực tràng.

e. Phẫu thuật cắt bỏ đại tràng dưới: Biện pháp phẫu thuật này được thực hiện khi khối u biểu mô nằm ở phần dưới của kết tràng sigma và phần trên phần trên của trực tràng. Sau khi phẫu thuật mở vùng bụng, khối u biểu mô nằm ở trực tràng hoặc đại tràng được cắt bỏ và sau đó hai đầu được nối lại với nhau. Trước đây, ung thư đại - kết tràng chỉ có thể thực hiện khi phần kết tràng không bị ung thư cách hậu môn ít nhất 6cm. Ngày nay, nhờ vào sự phát triển của tinh vi về phẫu thuật và máy nối mạch tự động, người ta có thể thực hiện phẫu thuật mà không cần cắt hậu môn.

f. Phẫu thuật bụng và đáy chậu (Phẫu thuật Mile): Biện pháp phẫu thuật này được thự hiện khi khối u biểu mô nằm ở phần dưới trực tràng. Phần trực tràng và đại tràng, nơi khối u biểu mô mọc, cần phải được cắt bỏ qua phẫu thuật vùng bụng và đáy chậu và đầu của trực tràng được gắn với hậu môn giả (cửa ruột và ống ruột).

Trong những trường hợp như vậy, một túi mềm được gắn bào bụng để phân có thể thoát ra. Bệnh nhân cũng nên được huấn luyện để có thể điều khiển được cổng ruột.

g. Phẫu thuật mở thông đại tràng: Biện pháp phẫu thuật này được thực hiện để giải quyết việc tắt ruột mà không cần cắt bỏ khối.

h. Phẫu thuật Hartmann: Biện pháp phẫu thuật này được thực hiện để tạm thời tạo một hậu môn giả sau khi cắt bỏ khối u biểu mô nằm ở trực tràng hoặc đại tràng sigma. Bạn có thể tháo bỏ hậu môn giả sau vài tháng, và hai đầu của đại tràng và kết tràng cần phải được nối lại với nhau.

i. Phẫu thuật soi bụng: Khi máy móc tinh vi phát triển cao, phẫu thuật vùng bụng có thể thực hiện nhờ vào máy nội soi, còn được gọi là “máy nội soi bụng”. Phẫu thuật soi bụng không làm bệnh nhân đau đớn so với phẫu thuật mở bụng và bệnh nhân có thể phục hồi nhanh chóng. Tuy nhiên, bác sĩ không nên dùng biện pháp này cho bệnh nhân có ung thư ở giai đoạn cuối và phương thức phẫu thuật này chỉ giới hạn cho khối u lớn mà không thể thực hiện bằng nội soi hoặc khi ung thư vẫn còn ở giai đoạn đầu mà việc thâm nhiễm chưa sâu.

j. Phẫu thuật qua hậu môn: Biện pháp phẫu thuật này được thực hiện khi khối u chưa phát triển trong trực tràng. Khối u được cắt bỏ sau khi gây tê tiếp xúc hoặc gây mê tổng quát.

k. Phẫu thuật bằng nội soi: Ở một số trường hợp, ung thư đại tràng ở thời kì đầu có thể được cắt bỏ bằng cách cắt bỏ khối u hoặc cắt bỏ niêm mạc bằng nội soi mà không cằn phải phẫu thuật mở vùng bụng.

l. Phẫu thuật dây thần kinh tự trị: Biện pháp phẫu thuật này được thực hiện trên dây thần kinh tự trị điều khiển chức năng bài tiết và chức năng sinh dục. Bác sĩ không nhất thiết phải thông báo cho bệnh nhân cũng như gia đình, họ hy vọng có thể duy trì mô để bệnh nhân có thể có một cuộc sống sinh hoạt bình thường.

m. Phẫu thuật khối u di căn: Trường hợp ung thư đại tràng đã di căn vào gan hoặc phổi, cách tốt nhất là nên cắt bỏ khối u biểu mô. Vấn nạn ở đây là, tỉ lệ khối u di căn có thể được giải phẩu chỉ chiếm 5%. Ở một số trường hợp, thuốc chống ung thư có thể dùng song song với phẫu thuật vì thế nó để lại kết quả rất khả quan.

 

B. Điều trị ung thư bằng hóa học trị liệu

Đây là biện pháp điều trị dùng hóa học để tiêu diệt các tế bào ung thư hoặc ngăn chặn các tế bào này phát triển. Trước khi áp dụng phương pháp trị liệu này, bệnh nhân và gia đình phải phải tham khảo kỹ lưỡng ý kiến bác sĩ về điều kiện bệnh nhân, mục đích điều trị, thuốc men có thể dùng, hiệu quả, phản ứng tiêu cực có thể xảy ra, biện pháp đối phó, thời gian điều trị…

 

 [Bảng 2] Tình trạng: ECOG

 

Mức độ

Định nghĩa

0

Bệnh nhân không có dấu hiệu bệnh, hoặc có biểu lộ một vài triệu chứng nhỏ.

1

Bệnh nhân có biểu lộ một vài triệu chứng nhỏ và họ vẫn có thể di chuyển được.

2

Bệnh nhân có thể đi lại, và có thể làm một số công việc đơn giản.

3

Bệnh nhân có thể làm một số công việc đơn giản nhưng đôi lúc cần người giúp đỡ.

4

Bệnh nhân không thể làm bất cứ việc gì và lúc nào cũng cần người giúp đỡ. Bệnh nhân nằm liệt giường.

 

Có thể dùng hoá học trị liệu để điều trị  trong các trường hợp sau:

 

a. Hóa học trị liệu thường được áp dụng nhằm ngăn chặn ung thư tái phát sau khi phẫu thuật.

b. Biện pháp điều trị này cũng được áp dụng để điều trị khi căn bệnh ở giai đoạn cuối mà phẫu thuật cắt bỏ khối u không thể thực hiện được.

c. Người ta cũng dùng biện pháp điều trị này để làm giảm triệu chứng của ung thư đã phát triển giai đoạn cuối phần nào đó.

Biện pháp nào được coi là biện pháp điều trị hữu hiệu nhất? không tính đến các xét nghiệm trước và trong khi giải phẩu, mô cắt được theo dõi bằng mắt thường và kính hiển vi để có thể xếp loại căn bệnh vào giai đoạn nào, đồng thời đánh giá cuộc phẫu thuật sắp tới có thành công hay không. Dù phẫu thuật thành công, nhưng căn bệnh có thể tái phát lại. Người ta cho biết, tỉ lệ khối u ở giai đoạn II tái phát chiếm từ 20 đến 30% và ở giai đoạn III chiếm từ 40 đến 60%. Vì thế, biện pháp điều trị cần được thực hiện sau khi phẫu thuật nhằm ngăn chặn căn bệnh tái phát. Một số nghiên cứu gần đây cho biết hóa học trị liệu là một biện pháp rất hữu ích trong việc phòng bệnh tái phát. Một số loại thuốc chống ung thư được áp dụng cho ung thư đã phát triển nặng và một số loại thuốc này cũng được dùng song song với hóa học trị liệu để làm tăng hiệu quả điều trị. Vấn nạn ở đây là các phản phụ có thể sảy ra thường xuyên. Do đó, thuốc chống ung thư phải đem lại hiệu quả cao mà không để lại nhiều phản ứng phụ. Leucovorin hoặc Levamisole (là hai loại thuốc diệt ký sinh có hiệu quả miễn dịch trị liệu cao) thường được dùng song song với thuốc chống ung thư “5-Fluorouracil (5-FU)”và tỉ lệ tuổi thọ sau khi phẫu thuật của bệnh nhân mắc bệnh ung thư ở giai đoạn II và III cũng tăng một cách đáng kể. Chính vì đây là biện pháp tiêu chuẩn. Thuốc “5-FU” nói trên là một loại thuốc điển hình chống ung thư ở thời kỳ cuối. Tương tư, thuốc Leucovorin làm tăng hiệu quả điều trị. Một số loại thuốc chống ung thư mới như Oxaliplatin, Ironotecan (CPT-11) và Tomudex được nhiều người sử dụng gần đây và nó cũng để lại nhiều hiệu quả khả quan. Thuốc chống ung thư thường được tiêm qua mạch máu, nhưng gần đây nhiều người chọn thuốc uống thay vì tiêm. Trường hợp khối u đã di căn vào gan, thuốc chống ung thư được tiêm vào động mạch gan hoặc tĩnh mạch cửa. Nếu khối u đã di căn vào phúc mạc, thuốc được tiêm vào khoang bụng. Hóa học trị liệu cần phải được thực hiện thường xuyên. Nếu như bạn đã hết thời hạn điều trị, và nó đã để lại hiệu quả cao, nhưng nó thường xuất hiện phản ứng phụ, bạn nên tiếp tục điều trị bằng hóa học trị liệu. Thời gian điều trị phải khác với kết quả điều trị. Sau khi phẫu thuật, bạn phải uống thuốc chống ung thư từ 6 đến 12 tháng. Để theo dõi quả, bạn nên đi kiểm tra từ 1 đến 3 tháng một lần và cứ làm như vậy cho đến khi bạn đạt được kết quả khả quan.

 

Kết quả có thể được phân thành loại như sau:

 

a. Trường hợp khối u được chữa trị hoàn toàn, người ta phân loại nó là “Thuyên giảm hoàn toàn” (CR)

b. Trường hợp khối u nhỏ đi nhiều, người ta phân loại nó là “Thuyên giảm phần” (PR)

c. Trường hợp khối u không thay đổi, người ta phân nó thành “Bệnh không di chuyển”

d. Bệnh ngày càng phát triển

Thuốc chống ung thư gây ra những phản ứng phụ và phản ứng này có nhiều loại khác nhau. Mỗi bệnh nhân biểu lộ phản ứng này khác nhau. Mức độ của phản ứng này cũng khác nhau tùy theo loại, liều lượng, phương thức điều trị, thời gian đều trị, và khoảng cách thuốc. Thuốc chống ung thư ảnh hưởng không những tế bào ung thư mà còn ngay cả tế bào bình thường. Thông thường, thuốc chống ung thư tác động vào các tế bào được phân chia rất nhanh. Các tế bào máu bao gồm các tế bào có chức năng chống nhiễm trùng, làm đông máu, và giúp máu vận chuyển ôxi đi khắp cơ thể. Khi thuốc ảnh hưởng đến chức năng của các tế bào máu, số lượng bạch cầu giảm đi, và khả năng đề kháng nhiễm trùng yếu đi và số lượng tiểu cầu cũng giảm. Chính vì thế mà cơ thể bệnh nhân dễ bị thâm tím và chảy máu và họ thường có cảm giác mệt mỏi do thiếu máu. Tương tự, các tế bào chân tóc và các tế bào biểu mô ở đường dạ dày ruột cũng được phân chia rất nhanh. Chính vì thế mà bệnh nhân có khuynh hướng rụng tóc và bị viêm ở niêm mạc miệng, lở loét và tiêu chảy. Thêm vào đó, biếng ăn, buồn nôn, và mệt mỏi làm cho bệnh nhân thêm đau đớn. Tuy nhiên, tác dụng phụ của thuốc sẽ từ từ biết mất khi bạn điều trị xong. Sau đây là những phương pháp khử trừ tác động phụ của thuốc.

 

Mức độ của tác động ngược được tổ chức sức khỏe thế giới phân loại như sau:

 

a. Mức độ 0: Bệnh nhân không biểu hiện một tác động phụ.  

b. Mức độ 1: Bệnh nhân biểu hiện một ít tác động phụ, nhưng không cảm thấy khó khăn trong hoạt động thường ngày.

c. Mức độ 2: Bệnh nhân cảm thấy khó khăn trong hoạt động thường ngày.

d. Mực độ 3: Bệnh nhân không thể làm những công việc thường ngày và họ phải nhập viện.

e. Mực độ 4: Bệnh nhân đang ở trong tình trạng nguy kịch đến tính mạng.

Tuy nhiên, 5-FU để lại tác dụng phụ rất nhỏ so với các loại thuốc chống ung thư khác.

 

c. Chữa bệnh bằng bức xạ

Chữa bệnh bằng bức xạ là một phương pháp chữa bệnh dùng tia có năng lượng cao để tiêu diệt các tế bào ung thư. Phương pháp chữa bệnh này được phân thành hai loại: bức xạ ngoại thể và bức xạ gần. Bức xạ ngoại thể là phương pháp điều trị bệnh bằng cách rọi tia nhiệt vào cơ thể người từ xa, trong khi đối với bức xạ gần, thì bức xạ được rọi ngay trên cơ thể người. Thông thường, trị liệu bằng bức xạ được thực hiện sau khi phẫu thuật để có thể tiêu diệt các tế bào ung thư còn sót lại. Đối với ung thư trực tràng, người ta dùng bức xạ trị liệu để phòng ngừa bệnh tái phát. Vấn đề là 2 ý kiến bất đồng nhau. Một bên cho rằng bức xạ trị rất có hiệu lực trong việc ngăn ngừa bệnh tái phát, nhưng bên kia lại cho rằng không nên dùng bức xạ để ngăn ngừa bệnh tái phát. Nếu như ung thư trực tràng phát triển nặng, người ta thường dùng bức xạ trị liệu để giữ hậu môn không bị ảnh hưởng bởi phẫu thuật. Nếu như ung thư đã phát triển quá nhanh, người ta có thể dùng bức xạ trị liệu để làm giảm triệu chứng như: tắc ruột, chảy máu, và những cơn đau. Bạn không cần phải nhập viện để trị liệu bằng bức xạ vì nó có sẵn cho các bệnh nhân ngoại trú. Thời gian điều trị khoảng 4 đến 6 tuần, mỗi tuần 5 lần. Trong thời gian đầu trị liệu, bạn sẽ gặp những biến chứng như: ngứa ngáy, buồn nôn, mệt mỏi, bụng đau, tiêu chảy. Đây là dấu hiệu thường sảy ra. Những biến chứng này có thể tạm thời hoặc có thể vĩnh viễn. Bức xạ trị liệu có thể gây cho bạn những khó khăn lâu dài sau khi chữa trị anh hưởng bởi do anh hưởng bởi tia sáng làm cho trực tràng và đại tràng viêm.

 

D. Điều trị bằng miễn dịch

Điều trị bằng miễn dịch là một phương pháp điều trị mới làm cho hệ thống miễn dịch của cơ thể có thể tiêu diệt được tế bào ung thư. Hiện nay nhiều người áp dụng biện pháp chữa trị này và thống kê cho thấy sự kết hợp giữ điều trị bằng miễn dịch và hóa học trị liệu chống ung thư đem lại cho bệnh nhân kết quả rất khả quan. Biến chứng sinh học cũng khác nhau tùy theo phương pháp điều trị.

 

E. Điều trị theo triệu chứng

Nếu như ung thư trực tràng đã phát triển nặng mà không được điều trị thích hợp, bạn nên chọn cho mình biện pháp giải phẩu để có thể giải quyết được vấn đề hoặc có thể giải quyết được những biến chứng phức tạp. Ví dụ, phẫu thuật mở thông đại tràng có thể thực hiện nhằm giúp bệnh nhân giảm đau. Nếu việc cắt bỏ khối u đại tràng làm ruột già bị tắc, nội soi dạ dày và ruột được áp dụng để chữa trị chảy máu hoặc tắc ruột. Để làm giảm những triệu chứng này, người ta thường dùng bức xạ trị liệu để chống chảy máu, tắc ruột và những cơn đau nhói.

 

(2) Theo dõi tiến trình bệnh lí

Sau vài lần điều trị, phẫu thuật, theo dõi từng giai đoạn, và theo dõi căn bệnh rất quan trọng. Ung thư có thể tái phát lại ngay vị trí cũ hoặc ở vị trí lân cận hoặc bất kì nơi nào trên cơ thể. Phát hiện ung thư tái phát sớm sẽ làm tăng khả năng điều trị. Để tiện việc theo dõi, chúng tôi khuyên bạn nên thử nghiệm máu gồm thử nghiệm hóa sinh (kiểm tra y tế và tiên lượng bệnh) và kháng nguyên ung thư phôi (CEA) hai tháng một lần trong 2 năm, sau đó 3 tháng một lần trong 5 năm. Sau khi được phẫu thuật, bệnh nhân nào có số CEA trung bình được đánh giá cao. Dĩ nhiên, chụp ngực bằng tia x, nội soi dạ dày ruột, chụp siêu âm bụng, chụp cắt lớp, và cộng hưởng từ là những loại hình kiểm tra rất hữu dụng. Bạn cũng cần phải lưu ý rằng song song với ung thư đại tràng, ung thư vú và ung thư buồng trứng ngày phát triển rộng rãi trong giới phụ nữ, trong khi nam giới thì thường mắc phải chứng bệnh ung thư tiền liệt.

 

Phòng ngừa

 

Nguyên nhân gây ra ung thư đại tràng vẫn chưa được giải thích một cách rõ ràng, nhưng người ta cũng tích lũy được nhiều kiến thức và kinh nghiệm và vì thế họ có thể phòng ngừa căn bệnh này ở một gốc độ nào đó. Biện pháp phòng ngừa chính bao gồm đánh giá yếu tố rủi ro và phòng ngừa những yếu tố khác để có thể ngăn chặn căn bệnh phát triển cũng như ngăn chặn sự phát triển của khối u tiền ung thư. Một số hội liên hiệp có liên nghiên cứu về ung thư đưa ra một vài gợi ý được tóm tắt như sau.

 

- Giảm calo hấp thụ từ mỡ thấp hơn 30%.

- Ăn nhiều thức ăn có chất sợi, khoảng 20 đến 30g một ngày.

- Ăn nhiều rau và trái cây.

- Không nên quá béo phệ.

- Không nên hút thuốc và uống rượu.

- Tập thể dục đều đặn.

 

Ngoài những gợi ý trên, đối với các chị em phụ nữ trong độ tuổi mãn kinh, thay Estrogen cũng được coi là một biện pháp phòng ngừa ung thư đại tràng rất có hiệu quả. Và dùng thuốc Aspirin hoặc thuốc chống viêm không chứa chất xteroid (NSAID) cũng rất hữu dụng trong việc ngăn chặn sự phát triển của căn bệnh ung thư đại tràng. Phương pháp đề cập trên không nên áp dụng cho tất cả mọi người vì những biến chứng có thể sảy ra. Như chúng tôi đã đề cập ở phần trước, hầu hết ung thư đại tràng bắt nguồi từ những bướu thịt thương tổn và phát triển thành ung thư. Vì thế, căn bệnh ung thư có thể phòng ngừa trước khi bướu phát triển thành bệnh. Đây còn được gọi là phương pháp phòng ngừa bậc hai. Đối với một số xét nghiệm và phương pháp chẩn đoán bệnh, cũng tương tự như những loại ung thư khác, phát hiện căn bệnh sớm sẽ mang lại kết quả điều trị tốt. Nếu khối u nằm giới hạn ở lớp niêm mạc hoặc ở hạ niêm, khả năng điều trị căn bệnh này có thể lên đến 100%. Nếu như ung thư đã phát triển nặng, điều trị ngay trong giai đoạn đầu có thể giúp bạn bình phục nhanh chóng và nó còn được gọi là phòng chống bậc ba.  

 

Tham khảo ý kiến bác sĩ trong các trường hợp sau

 

Đối với những ai ở độ tuổi 50 không biểu hiện nguy cơ mắc bệnh, chúng tôi khuyên bạn đi kiểm tra để có thể điều trị một cách kịp thời. Đối với những người ở độ tuổi này có nguy cơ mắc bệnh, chúng tôi khuyên bạn nên đi khám bác sĩ để có thể xét nghiệm tùy theo từng giai đoạn cũng như tùy theo nguy cơ căn bệnh. Nếu như bạn có triệu chứng ung thư, bạn nên đi kiểm tra để chẩn đoán bệnh. Tuy nhiên, như chúng tôi đã đề cập ở trước, một vài triệu chứng ung thư đại tràng có thể sảy ra, nhưng bạn cũng nên lưu ý rằng ung thư đại tràng cũng có thể phát triển mà không biểu lộ một triệu chứng nào. Nếu như khối u được phát hiện sau khi kiểm tra, bạn nên cắt bỏ nó bằng cách dùng dùng phương pháp nội soi dạ dày ruột. Nếu bệnh nhân được chẩn đoán mắc bệnh ung thư đại tràng, bệnh nhân phải nhập viện để có thể điều trị kịp thời.     

Leave a comment
Name *
Password *
Mail(Will not published)
Website
Comment *
B_n ngh_a c_a k_ to�n b_ _i_u n�y trong Says:
2015-08-07 11:09:54
B_n ngh_a c_a k_ to�n b_ _i_u n�y trong b�i vi_t l� th_c __ vui , m_i m_tc� th_ kh�ng g_p kh� kh_n ___c nh_n th_c c_a n� , C_m _nr_t nhi_u.
Sắc đẹp & Phong cáchUng thư và Phòng ngừaLối sống lành mạnhSức khỏe tinh thần và stressGiới tính Nam/NữChủ đề nóng bỏng
ⓒ2007 HIDOC, Inc. All rights reserved. HIDOC does not provide medical advice, diagnosis or treatment. See additional information.