Search Contact Us Bookmark this page Admin
Sắc đẹp & Phong cáchUng thư và Phòng ngừaLối sống lành mạnhSức khỏe tinh thần và stressGiới tính Nam/NữChủ đề nóng bỏng
SiteMaps 탐색 건너뛰기 링크Hidoc Home > Sức khỏe tinh thần và stress > Tâm thần học (0-18)
Tâm thần học (0-18)
Bệnh tự kỷ
[2007-09-18 09:22] (554)

Đặc điểm chung

 

Cụm từ “Con người là một động vật xã hội”. Trẻ em sau khi sinh từ 2-3 tháng có thể phản ứng với người xung quanh. Đặc biệt, trẻ em bắt đầu bám vứu lấy mẹ bé từ tháng thứ 6, và bé không muốn tách rời mẹ (chia cách). Điều này còn được gọi là sự gắn bó. Sau đó, bé bắt đầu thích cha, anh chị em trong nhà và dần dần nối rộng mối tương quan với những người xung quanh và bè bạn. Đối với người lớn, kỹ năng giao tiếp đóng vai trò rất quan trọng trong việc duy trì đời sống xã hội. Nhưng cũng có một vài trẻ thích ở một mình, không thích nói chuyện, và cónhũng hành vi rất kỳ là khi chúng được 2 hoặc 3 tuổi. Những bé này thích có một thế giới riêng của mình, đây cũng là lý do tại sao người ta gọi căn bệnh này là bệnh tự kỷ. Bác sĩ Kanner là người đầu tiên mô tả căn bệnh này vào năm 1943 tại Mỹ. Nhiều cuộc nghiên cứu đã được thực hiện trên trẻ em về phương diện tâm thần.

 

Sau đó, bác sĩ Rutter, một chuyên gia về bệnh tự kỷ người Anh cho biết bệnh tự kỷ có những đặc điểm sau:

1. Trốn tránh giao tiếp với người khác.

2. Dùng những ngôn từ kỳ dị.

3. Lập đi lập lại những hành vi kỳ lạ. Trẻ mắc bệnh tự kỷ gặp nhiều khó khăn về 3 phương diện trên đây. Khi các nhà nghiên cứu khám phá ra căn bệnh này lần đầu tiên, họ nghĩ đây là một rối loạn tâm thần phát triển trong giai đoạn thơ ấu. Nhưng sau đó, người ta đã chứng minh rằng bệnh tự kỷ không dính líu gì đến rối loạn tâm thần ở người lớn. Thay vào đó, đây là một rối loạn về tiến trình phát triển bao gồm phát triển về phương diện xã hội, ngôn ngữ và nhận thức, và về phương diện ứng xử. Chính vì thế, người ta gọi căn bệnh này là rối loạn về phát triển. Bệnh tự kỷ là một rối loạn về phát triển, không phải là rối loạn tâm thần. Tuy nhiên, bệnh tự kỷ là một căn bệnh rất khó điều trị và hướng dẫn. Chính vì thế, tất cả các bậc phụ huynh, chuyên gia y tế và giáo viên đã gặp nhiều khó khăn. Dù sao đi chăng nữa, với những nỗ lực và nếu bệnh sớm được chẩn đoán sớm sẽ lại hiệu quả khả quan. Nếu con em mắc chứng bệnh tự kỷ, các bạn không nên đầu hàng.

 

Từ đồng nghĩa

 

Bệnh tự kỷ còn có tênn là: rối loạn không điển hình, rối loạn phát triển, tự kỷ giả và rối loạn tâm thần cộng sinh.

 

Định nghĩa

 

Bệnh tự kỷ có đặc điểm như sau: kỹ năng giao tiếp và ngôn ngữ bị trì trệ và lập dị, có hành vi rập khuôn, giao tiếp với người khác kỳ dị. Đây cũng là một rối loạn phát triển thường gặp ở trẻ em. Trên thế giới, trung bình cứ 10.000 trẻ em, thì có khoảng 4-12 trẻ mắc bệnh tự kỷ (con số này chiếm 0.1%), và tỉ lệ mắc bệnh ở bé trai tăng từ 3-4 lần so với bé gái. Một rung tâm nghiên cứu bệnh của Hàn Quốc cho biết trung bình cứ 10.000 người thì có 9,2 người mắc bệnh tự kỷ và số bé nam mắc bệnh nhiều hơn bé nữ là 3,4 lần (Hồng Kông, 2000).

 

Triệu chứng

 

Trẻ em mắc bệnh tự kỷ có những giai đoạn phát triển khác nhau chính vì thế triệu chứng khác nhau. Mặc dầu, căn bệnh có nhiều mức độ khác nhau, nhưng triệu chứng bệnh có thể được phân loại theo nét đặc trưng chung mà bạn sẽ dễ dàng thấy ở bất kỳ trẻ nào mắc bệnh tự kỷ. Đối với trẻ em mắc bệnh tự kỷ, thường có 3 triệu chứng chính.

 

1. Chậm phát triển hoặc không phát triển về ngôn ngữ hoặc kỹ năng giao tiếp

- Bạn sẽ thấy ngay vì trẻ cư xử như một người điếc.

- Chậm biết nói, và thậm chí nói không rõ.

- Lập đi lập lại từ ngữ hoặc câu văn và bắt chước giọng của người khác (chẳng khác nào một cái máy).

- Nghe mà không hiểu.

- Không biết diễn đạt suy nghĩ, ngay cả việc diễn đạt bằng hành động hoặc cử chỉ (dùng chân tay hoặc cơ thể để diễn đạt).

- Thích chơi một mình hơn là với các trẻ em cùng trang lứa.

 

2. Có những hành vi rập khuôn

- Chỉ tập trung vào 1 hoặc 2 vật (ví dụ: cái cột tóc, bút chì…)

- Kiên trì và không thích những thay đổi nhỏ (ví dụ: sắp xếp lại đồ đạc trong nhà).

- Lập đi lập lại những động tác (ví dụ: lắc tay hoặc lắc ngón tay)

- Chỉ tập trung vào một phần của một vật (ví dụ: bánh xe)

- Thích chơi đồ chơi (ví dụ: chơi bi-a)

 

3. Không thể giao tiếp với người khác và phát triển khả năng giao tiếp

- Không thích nhìn thẳng vào mắt người khác.

- Không biểu lộ cảm xúc trên mặt, không thích cười.

- Không thích chơi với trẻ em khác, thích chơi một mình hoặc không thích làm bạn với các trẻ khác.

- Không biểu lộ cảm xúc hoặc nói cho mẹ bé biết bé cần gì.

- Không thích người khác chạm vào người hoặc ôm.

- Không biểu lộ sự ngạc nhiên khi vui chơi như những trẻ khác.

 

4. Một số đặc điểm khác

- Thường ngạc nhiên hoặc lo sợ về những chuyện không quan trọng.

- Không bao giờ tỏ thái độ ngạc nhiên như những trẻ khác.

-  Không bao giờ bắt chước.

- Có những hành vi tự làm đau chẳng hạn như đập đầu vào tường, hoặc cắn tay (hành vi tự làm hại bản thân).

- Chỉ thích xem chương trình quảng cáo trên ti vi.

- Mắc bệnh động kinh.

- Không tự bảo vệ cho mình và thiếu hiếu chiến.

- Rất nhạy cảm và bất cần trước một vài sự việc.

 

Nguyên nhân, điều kiện và sinh lý bệnh

 

“Nguyên nhân nào gây bệnh tự kỷ?” là câu hỏi mà mọi người đều muốn biết. Dĩ nhiên là các bậc phụ huynh, các chuyên gia, và giáo viên đều muốn biết nguyên nhân gây bệnh. Sau khi căn bệnh này được khám phá ra lần đầu tiên, một số nhà nghiên cứu nghĩ rằng bệnh này gây ra do yếu tố môi trường chẳng hạn như thiếu tình thương của cha mẹ hoặc cơ thể thiếu chất kích thích. Nhưng sau đó, họ đều nhất trí rằng, yếu tố môi trường không phải là nguyên nhân gây bệnh. Ít ra, bệnh tự kỷ không phải phát sinh do người mẹ hoặc do sai lầm tự nhiên, và gần đây nhất, người ta đều tin rằng bệnh tự kỷ phát sinh do chức năng não có vấn đề.

 

Hiện nay người ta vẫn chưa chứng minh được chức năng não là nguyên nhân gây bệnh. Theo một vài quan điểm và bằng chứng cho thấy, căn bệnh này là một căn bệnh bẩm sinh bắt đầu ngay từ khi mới sinh. Vì thế, chúng ta có thể nói căn bệnh này phát sinh do yếu tố bẩm sinh, sinh học và y học. Kết quả kiểm tra được nêu rõ sau đây. 

 

Thứ nhất, bệnh tự kỷ thường đi kèm với chứng phì đại và thường biểu lộ ngay sau khi sinh nhưng biến chứng làm tổn thương não đã xảy ra trước khi trẻ được sinh ra.

 

Thứ hai, trẻ em mắc bệnh tự kỷ có não bất thường chiếm hơn một nửa số trẻ mắc bệnh và có những triệu chứng co giật cho đến tuổi thanh thiếu niên. Trẻ thường khóc một cách vô cớ, la hét và có những hành vi khác thường

 

Thứ ba, soi não bằng CT và MRI sẽ giúp bạn theo dõi tiểu não và các chi. Thứ tư, trẻ em mắc bệnh tự kỷ dễ dàng nhận dạng hơn trẻ mắc bệnh loạn não. Thứ năm, chức năng sinh học của trẻ mắc bệnh tự kỷ khác với trẻ bình thường.

 

Kế đó bạn có thể nhận ra trẻ mất đi sự chú ý và khả năng tập trung. Thứ sáu, theo nghiên cứu về chất dẫn truyền thần kinh, lượng Serotonin trong mạch máu cao hơn so với trẻ bình thường. Cuối cùng, bệnh tự kỷ có khả năng di truyền và khả năng di truyền này cao hơn so với trẻ em bình thường nếu một cặp song sinh đều mắc bệnh tự kỷ, hoặc chỉ một trẻ mắc bệnh. Sau khi xem xét nhiều kết quả nghiên cứu và theo dõi bệnh, chúng ta có thể kết luận rằng bệnh tự kỷ bị ảnh hưởng bởi hai yếu tố: bẩm sinh và sinh học và điều này gây rối loạn não và rối loạn về phát triển. Làm thế nào và do đâu chức năng não bị ảnh hưởng hiện nay vẫn chưa được làm sáng tỏ, nhưng dẫu sao chúng ta đã gặt hái được nhiều thành công trong quá trình tìm ra căn bệnh. 

 

Chẩn đoán

 

Tiêu chuẩn chẩn đoán

Việc chẩn đoán bệnh có thể được thực hiện bằng cách theo dõi toàn bộ tiến trình phát triển và hành vi của trẻ. Việc đầu tiên, trẻ không thể tương quan với người xung quanh kể cả cha mẹ. Thứ hai, không phát triển về ngôn ngữ hoặc kỹ năng giao tiếp. Thứ ba, có những hành vi rập khuôn, và không thích thay đổi hoặc xê dịch. Nếu trẻ có những triệu chứng trên, trẻ có thể được chẩn đoán là đã mắc bệnh tự kỷ. Nếu mối tương quan của trẻ với người xung quanh bình thường, chúng ta không thể khẳng định trẻ mắc bệnh tự kỷ cho dù những triệu chứng khác biểu hiện rất rõ. Mặc dù trẻ em bị tổn thương não, chậm phát triển trí tuệ, hoặc yếu kém một khả năng nào đó, thường có những hành động lập đi lập lại hoặc rập khuôn. Chúng ta không thể nào nói những trẻ này mắc bệnh tự kỷ nếu trẻ gắn bó với cha mẹ chúng và biểu hiện cảm xúc với người xung quanh.

 

Kiểm tra bệnh

A. Không có công cụ hoặc một phương pháp kiểm tra nào cụ thể. EEG, CT và MRI là những phương pháp được dùng để kiểm tra não trước khi chẩn đoán bệnh. Đồng thời trẻ cũng cần phải kiểm tra nhiễm sắc thể vì một số trẻ có nhiễm sắc thể dị thường. Kiểm tra khả năng hiểu biết cũng là cách giúp bạn kiểm tra trí thông minh và khả năng của trẻ. Có khoảng 20-25% trẻ mắc bệnh tự kỷ có chỉ số thông minh ở mức độ bình thường và có khoảng 75-80% trẻ thấp hơn chỉ số thông minh là 70. Những phương pháp kiểm tra trên sẽ cho thấy một vài biểu hiện cụ thể. Trẻ mắc bệnh tự kỷ thường có điểm rất yếu về khả năng xã giao. Dấu hiệu này chứng minh sự dị thường về khả năng xã giao và những phương pháp kiểm tra trên rất tốt trong việc chẩn đoán bệnh.

 

B. Nhiều nhà nhiên cứu đã dùng tỉ lệ đánh giá để có thể kiểm tra trẻ có mắc bệnh tự kỷ hay không, bệnh có trầm trọng hay không, để tiện cho việc nghiên cứu. Để xác nhận trẻ mắc bệnh tự kỷ, người ta phải dựa trên những triệu chứng cụ thể và mức độ của những triệu chứng đó. Ví dụ, Childhood Autism Rating Scale (CARS) hoặc Autism Behavior Checklist (ABC) là hai loại điển hình. Tuy nhiên, điểm tìm ra từ kết quả trên chỉ là những điều kiện để có thể chẩn đoán bệnh, nhưng chưa thể kết luận rằng trẻ đã mắc bệnh.

 

Đánh giá

Khi chẩn đoán, đánh giá khả năng trẻ mắc bệnh tự kỷ còn quan trọng hơn việc khám phá ra bệnh. Ví dụ, các bậc phụ huynh và giáo viên làm nên biết thế nào để giúp trẻ sau khi đánh giá về khả năng của trẻ, chẳng hạn như về mối liên quan và sự thân thiện của trẻ với người xung quanh, khả năng giao tiếp, khả năng hiểu biết, khả năng diễn đạt, chuyển động cơ thể và khả năng bắt chước.

 

Khó khăn trong việc phân biệt giữa bệnh tự kỷ và khả năng mắc bệnh tự kỷ

Gần đây, nhiều trẻ mắc bệnh tự kỷ giả. Những trẻ này biểu hiện những triệu chứng giống như người mắc bệnh tự kỷ nhưng thật ra đó không phải là bệnh tự kỷ (nhưng đó là “bệnh tự kỷ giả”). Nói một cách nôm na, trẻ này có khả năng mắc bệnh tự kỷ. Khả năng mắc bệnh tự kỷ có thể phát sinh thành bệnh tự kỷ ở những trường hợp sau.

 

A. Rối loạn ngôn ngữ

Trẻ bị rối loạn ngôn ngữ tránh tiếp xúc với người khác vì trẻ không hiểu những gì người khác nói. Bạn có thể nhầm lẫn với bệnh tự kỷ vì bệnh tự kỷ thật và bệnh tự kỷ giả đều đề cập đến rối loạn ngôn ngữ. Tuy nhiên trẻ có xu hướng mắc bệnh tự kỷ khác với trẻ mắc bệnh tự kỷ ở điểm là trẻ dễ dàng tạo mối tương quan với cha mẹ, và có thể chơi với những trẻ em cùng trang lứa.

 

B. Thiếu tình mẫu tử và khó gắn bó

Gần đây chúng ta dễ dàng thấy lý do trẻ không phát triển về ngôn ngữ cũng như không gắn bó với người khác là vì trẻ thiếu sự quan tâm chăm sóc của cha mẹ khi chúng được 1-2 tuổi. Chính vì thế, phân biệt bệnh tự kỷ giả và bệnh tự kỷ thật quả là một điều khó khăn. Trẻ mắc bệnh tự kỷ giả có thể hàn gắn mối tương quan của mình đối với người khác bằng cách vui chơi hoặc gắn bó với mẹ chúng hoặc với các bác sĩ. Ngôn ngữ và hành vi của trẻ có thể trở lại bình thường nếu bệnh được phát hiện sớm và điều trị kịp thời, nhưng nếu bệnh phát hiện trễ, khó khăn về ngôn ngữ và cách ứng xử sẽ kéo dài. Chính vì thế, phát hiện bệnh sớm quả là một điều rất quan trọng.

 

C. Não tổn thương và tính quá hiếu động

Thật khó mà phân biệt bệnh tự kỷ giả và bệnh tự kỷ thật bởi vì trẻ có não tổn thương hoặc quá hiếu động thường có mối quan hệ với mẹ và người xung quanh hời hợt. Tuy nhiên, nếu xem xét kỹ lưỡng, chúng ta có thể thấy sự khác biệt. Mặc dù trẻ gặp khó khăn trong việc tạo ra mối quan hệ bởi vì trẻ không thể tập trung, quá hiếu động, bị ép buộc… những điều này ảnh hưởng ít nhiều gì đến việc tạo mối tương quan với người xung quanh.

 

D. Chậm phát triển về trí tuệ

Đối với trẻ có chỉ số IQ dưới 30, trẻ sẽ gặp khó khăn trong mối tương quan với người xung quanh và chậm phát triển bởi vì trẻ chậm phát triển về trí tuệ, cuối cùng, trẻ có thể phát sinh bệnh tự kỷ. Gần đây, người ta cho biết rằng nhiều trẻ ở trường hợp nêu trên đã phát sinh bệnh tự kỷ. Xác định đó là bệnh tự kỷ quả là một điều khó khăn ở một vài trường hợp. Trong những trường hợp như vậy, chỉ có các chuyên gia mới có thể nhận dạng bệnh vì họ đã dành nhiều thời gian dài nghiên cứu trên trẻ em và có rất nhiều kinh nghiệm về nhiều căn bệnh khác nhau.

 

Tiến trình phát triển và tiên lượng bệnh

 

Một mặt, căn bệnh có thể nhận ra ngay từ khi mới sinh nhưng mặt khác, căn bệnh vẫn chưa được xác định rõ ràng cho đến khi trẻ lên 3 tuổi. Ở một số trường hợp, mặc dù trẻ vẫn có những biểu hiện bình thường, nhưng từ từ sự phát triển ngưng và thoái lui. Trẻ phát triển chậm hẳn đi so với những trẻ khác nhưng một số cơ quan khác vẫn phát triển nhanh. Tuy nhiên, trẻ có thể bị thoái lui khi trẻ mắc bệnh, quá căng thẳng hoặc khi trẻ đến tuổi dậy thì. Hướng dẫn và giúp đỡ tận tình của các chuyên viên y tế và gia đình đóng vai trò rất quan trọng trong việc điều trị bệnh.

 

Những trường hợp sau có tiên lượng bệnh có tiến triển:

- Có chỉ số thông minh cao.

- Có thể giao tiếp đuợc bởi vì ngôn ngữ phát triển.

- Có kỹ năng giao tiếp.

1/3 trẻ em mắc bệnh tự kỷ sống trong xã hội không có sự giúp đỡ của người thân, 1/3 trẻ khác cần được giúp đỡ của người thân để có thể tham gia vào các hoạt động xã hội, và phần còn lại gặp nhiều khó khăn hòa nhập với đời sống xã hội vì trẻ mắc bệnh này cần có sự quan tâm chăm sóc một cách đặc biệt và trẻ có thể được điều trị ở một trung tâm điều trị chuyên khoa hoặc một tổ chức có liên quan.

 

Điều trị

 

Chúng ta hãy cùng nhau xem xét nguyên tắc điều trị và giáo dục dành cho trẻ mắc bệnh tự kỷ. Nguyên tắc này dựa trên điểm đặc trưng, nguyên nhân gây bệnh và điều trị bệnh tự kỷ.

 

1. Vì bệnh tự kỷ ảnh hưởng đến sự phát triển toàn diện của trẻ, chính vì thế trẻ cần sự hỗ trợ về các mặt này. Đây là một kết luận hiển nhiên.

 

2. Trước khi bắt đầu điều trị, bệnh của trẻ cần phải được chẩn đoán và đánh giá rõ ràng. Đánh giá từng khía cạnh chẳng hạn khả năng thông minh, khả năng giao tiếp, khả năng nhận thức, ngôn ngữ, khả năng tự giúp bản thân, động tác… cần phải nêu chi tiết.

 

3. Trong thời gian đầu điều trị, bạn chỉ cần một bác sĩ đưa ra một phương pháp tổng hợp chứ không cần nhiều bác sĩ. Việc đầu tiên, tạo nên sự gắn bó giữa mẹ và bé cũng rất cần thiết trong suốt quá trình điều trị. Tiếp đó, tạo nên sự gắn bó giữa bé và bác sĩ. Tiếp đó là một chương trình tổng hợp áp dụng nhiều lĩnh vực.

 

4. Khi trẻ có thể tham gia vào hoạt động mang tích chất giáo dục sau khi tạo sự gắn bó với cha mẹ và bác sĩ, bác sĩ thuộc các lĩnh vực khác nhau có thể giúp trẻ phát huy những kỹ năng khác nhau. Làm việc theo đội cần có sự kết hợp mật thiết. Tập trung để điều trị một phạm vi nào đó sẽ không đem lại hiệu quả mà còn tạo nên sự chênh lệch và bệnh có thể sẽ phát triển nặng thêm. Đối với trẻ mắc bệnh tự kỷ, điều trị một phạm vi không giúp trẻ bình phục toàn diện.

 

5. Đối với bệnh tự kỷ, phát hiện bệnh sớm đóng vai trò rất quan trọng trong việc điều trị, nhất là khi trẻ lên 2 tuổi. Chẩn đoán bệnh sớm và nhanh sẽ giúp cho việc điều trị đạt hiệu quả cao.

 

6. Các bậc phụ huynh và bác sĩ nên áp dụng biện pháp vui chơi. Một khi trẻ thích thú về việc vui chơi, trẻ sẽ phát triển nhiều kỹ năng.

 

7. Trẻ cần được trợ giúp của nhiều người. Bạn phải hiểu rằng trẻ em mắc bệnh tự kỷ là những trẻ có nhiều mặt yếu kém và bạn không nên nghĩ rằng trẻ có thể tự mình phát triển. Bạn cần phải chuẩn bị môi trường xung quanh để làm tăng khả năng phát triển của trẻ. Trong những môi trường như vậy trẻ chỉ có thể phát triển một số kỹ năng trong một thời gian dài. Chính vì thế điều quan trọng là bạn phải cho trẻ có thêm nhiều kinh nghiệm bằng cách chọn một phương pháp sôi động, tiếp xúc với những người không thuộc thế giới của trẻ và tham gia nhiều trò chơi mang tính chất giáo dục.

 

8. Điều trị và những chương trình mang tính chất giáo dục cần phải được thực hiện trong một môi trường thích hợp, có tổ chức thay vì một hình thức tự do lỏng lẻo. Đồng thời bạn nên áp dụng nhiều phương pháp. Điều trị và học hỏi cần phải được tiến hành song song, mỗi ngày khoảng 2-3 tiếng.

 

9. Không phải chỉ  giúp trẻ bỏ đi những hành vi chướng mắt (hành vi rập khuôn), trẻ cũng cần phải phát huy cách ứng xử bình thường. Dần dần những hành vi chướng mắt sẽ giảm bớt. Sự thay đổi lối ứng xử sẽ giúp trẻ chế ngự được những hành vi rập khuôn và hành vi dị thường. Điều trị sinh học cũng đem lại hiệu quả cao.

 

10. Tạo điều kiện cho trẻ mắc bệnh tự kỷ có dịp tiếp xúc với trẻ khỏe mạnh càng nhiều càng tốt. Vì trẻ mắc bệnh không thích chơi với trẻ khác cùng trang lứa chính vì thế trẻ mất đi cơ hội phát triển khả năng xã giao và cư xử khác lạ so với trẻ khỏe mạnh. Trẻ mắc bệnh cần có cơ hội học hỏi qua việc tiếp xúc với trẻ bình thường. Mục đích chính của việc tiếp xúc này là làm cho trẻ mắc bệnh cư xử giống như trẻ bình thường. Chính vì thế những trẻ này cần phải trải qua những kinh nghiệm như những trẻ bình thường khác.

 

11. Các bậc phụ huynh là bác sĩ và giáo viên quan trọng nhất.

Cha mẹ rất nhiệt thành và tận tâm lo cho con cái hơn ai khác. Họ thường dành nhiều thời gian ở bên con bởi vì mẹ là một chủ thể gắn bó chính yếu, cha mẹ có thể gọi là bác sĩ và giáo viên quan trọng nhất.

 

12. Phương pháp điều trị trẻ mắc bệnh tự kỷ tập trung chủ yếu vào sự phát triển bởi vì trẻ em mắc bệnh tự kỷ thường yếu kém về mặt phát triển. Phương pháp này bao gồm đánh giá sự phát triển của trẻ một cách chi tiết, nhận định giai đoạn phát triển kế tiếp, yếu tố kích thích và chuyển sang giai đoạn phát triển kế tiếp. Chúng ta cần biết rằng trong bất kỳ hình thức điều trị nào cũng đều nhắm đến việc giúp trẻ trở thành những trẻ bình thường. Làm thế nào để trẻ có thể phát triển khả năng ngôn ngữ, khả năng giao tiếp và thực hiện các động tác một cách bình thường là một tiến trình học hỏi mà các bậc phụ huynh và các bác sĩ cần phải hỗ trợ thật nhiều.

 

13. Trường hợp trẻ biểu hiện triệu chứng tự kỷ rất nặng chẳng hạn như có những hành vi tự làm hại bản thân hoặc động kinh, điều trị sinh học (điều trị bằng dược phẩm) cũng rất cần thiết. Nếu bệnh không giảm, bạn có thể mang trẻ đến bệnh viện điều trị để bác sĩ chuyên khoa và cha mẹ đỡ vất vả.

 

14. Bệnh tự kỷ không thể điều trị trong một thời gian ngắn. Đôi khi kế hoạch điều trị kéo dài một đời người.

A. Giai đoạn đầu: Làm tăng sự gắn bó (khả năng xã giao) với cha mẹ.

B. Giáo dục đặc biệt ở giai đoạn đầu: Đối với một số trẻ, mỗi trẻ cần có một chuyên gia hoặc có thể hai trẻ một chuyên gia.

C. Bài tập cho từng cá nhân trong giai đoạn kế tiếp chẳng hạn như về bài tập về ngôn ngữ hoặc về cảm xúc.

D. Cố gắng cho trẻ tiếp xúc với các trẻ khỏe mạnh ở một số nơi như khu vui chơi, trung tâm dành cho trẻ em, trường mẫu giáo.

E. Khi trẻ đến tuổi học cấp 1, bạn nên chọn một lớp dành riêng hoặc một trường dành riêng cho trẻ mắc bệnh này tùy theo khả năng của từng trẻ.

F. Sau khi học xong cấp 2 và cấp 3, các bạn trẻ nên tập trung vào khả năng xã giao và công việc.

G. Cuối cùng, những người này cần có kế hoạch sẽ sống ở đâu khi họ trưởng thành. Họ phải tự mình quyết định nên sống với cha mẹ hoặc nên sống với một nhóm hoặc sống trong một trung tâm điều trị lâu dài bất chấp mọi khó khăn.

H. Điều trị bệnh tự kỷ là một điều rất khó khăn. Cho dù bạn đã cố gắng đến mức nào đi chăng nữa, kết quả có thể làm bạn thất vọng. Tuy nhiên, nếu bạn cố gắng hết mình, chắc chắn sẽ gặt hái được nhiều thành công mỹ mãn. Chính vì thế bạn không nên đầu hàng.

 

Các hình thức điều trị

 

Điều trị bằng dược phẩm

Sự can thiệp của bác sĩ đa khoa (GP) hoặc các chuyên gia sẽ giúp bạn điều trị bệnh. Ví dụ, đối với người có não bị tổn thương và mắc chứng bệnh động kinh, bác sĩ sẽ cho uống thuốc chống co giật để bệnh nhân dễ dàng kìm chế được chứng co giật và ngăn cản não tổn thương. Nếu bệnh nhân mắc hai chứng bệnh này điều trị bằng dược phẩm, bệnh sẽ mau lành. Trong số các loại thuốc chống co giật, thuốc Carbamazepine (Tegretol) không những điều trị được căn bệnh động kinh mà còn làm cho bệnh mau lành. Khi trẻ mắc bệnh tự kỷ có tính hiếu động hoặc có những hành vi khó kìm chế, uống một liều lượng nhỏ thuốc an thần Haloperidol sẽ rất công hiệu. Người ta thường cho trẻ uống thuốc Risperidone, đây là một loại thuốc để lại ít tác dụng phụ mới được chế biến gần đây. Nếu bệnh nhân không thể tập trung hoặc có tính hiếu động, bạn có thể cho trẻ dùng các loại thuốc như Methyl-Phenidate (Ritalin) hoặc Pemoline(Oxadone). Naltrexone hoặc SSRIs và có thể dùng kèm với một lượng nhỏ thuốc an thần sẽ rất công dụng đối với trẻ có hành vi tự làm hại bản thân và trẻ có hành vi tự cắn mình. Trước đây, tác dụng của thuốc Fenfluramine và Enzyme bổ xung (BH4) liên quan đến sự chuyển hóa Serotonin đã được Mỹ và Nhật kiểm tra, những kết quả hiện nay vẫn cần được thẩm tra.

 

2. Giáo dục các bậc phụ huynh và giáo dục qua các bậc phụ huynh

Ở hầu hết các trường hợp, bệnh được chẩn đoán bởi một chuyên gia tâm thần của trẻ em. Những chuyên gia này nên giải thích cho các bậc phụ huynh về việc chẩn đoán và những đặc điểm bệnh, tham vấn cho các bậc cha mẹ về phản ứng của họ về căn bệnh, điều trị và giáo dục sẽ ra sao. Chính vì thế, người ta thường nhấn mạnh cha mẹ là bác sĩ và là giáo viên quan trọng nhất trong quá trình điều trị. Phụ huynh nên biết làm thế nào để có thể giúp con em mình mới là điều quan trọng vì cha mẹ thường dành nhiều thời gian bên con cái cho dù con họ có điều trị ở đâu. Nếu con họ được điều ở một trung tâm, điều này sẽ khác.

 

3. Trung tâm giáo dục và trung tâm chăm sóc

Sau khi bệnh được chẩn đoán và trẻ được điều trị một cách thích hợp, trẻ em cần được giáo dục. Điều này có thể thực hiện bằng cách giáo dục hằng ngày do các chuyên gia được huấn luyện lâu năm hoặc những giáo viên chuyên nghiệp ở trung tâm giáo dục hoặc ở các trung tâm chăm sóc của bệnh viện. Những trung tâm này có nhiệm vụ tìm ra biện pháp giúp trẻ phát huy kỹ năng giao tiếp với người xung quanh và sự phát triển toàn diện của trẻ (động tác, ngôn ngữ, khả năng tự chăm sóc bản thân) thay vì các chương trình mang tính chất giáo dục khác. Những trung tâm nói trên nên dùng nhiều phương pháp khác nhau chẳng hạn như vui chơi, hoặc những hoạt động thông thường  thường được dùng trong việc nuôi dạy trẻ khỏe mạnh. Những phương pháp mang tính chất điều trị, giáo dục, hành xử được tổ chức chặt chẽ sẽ mang lại hiệu quả cho trẻ mắc bệnh tự kỷ so với những phương pháp lỏng lẻo.

 

4. Điều trị ngôn ngữ

Vì ngôn ngữ của trẻ bị trì trệ, bạn sẽ nghĩ rằng con bạn chỉ cần điều trị ngôn ngữ. Nhưng thực ra, điều trị ngôn ngữ chỉ chiếm một phần nhỏ trong toàn bộ chương trình và trẻ cẩn được điều trị ngôn ngữ riêng biệt cho đến khi trẻ có thể giao tiếp.

 

5. Điều trị bằng cách vui chơi

Điều trị bằng cách vui chơi là một hình thức thúc đẩy sự phát triển qua việc chơi thay vì phải điều trị bằng tâm lý. Ngay cả trong việc học, vui chơi cũng đóng vị trí rất quan trọng.

 

6. Điều trị hành vi

Điều trị hành vi là một phương pháp giáo dục và điều trị, áp dụng nguyên tắc thay đổi về cách hành xử, và phương pháp này thường được áp dụng rộng rãi cho trẻ mắc bệnh tự kỷ. Biện pháp này được các bậc phụ huynh áp dụng một cách hiệu quả trong khóa sư phạm và huấn luyện trẻ. Đồng thời phương pháp này giúp trẻ bỏ đi những hành vi rập khuôn và cư xử bình thường.

 

7. Những phương pháp điều trị khác

Mặc dù có nhiều phương pháp điều trị chẳng hạn như điều trị bằng nhạc, vẽ, múa và thể thao, nhưng mỗi phương pháp trên không thể điều trị bệnh tự kỷ, và những phương pháp này chỉ đóng vai trò bổ xung cho toàn bộ chương trình.

 

8. Giáo dục đặc biệt

Trẻ có thể tham dự khóa học đặc biệt nâng cao về việc phát huy khả năng giao tiếp và ngôn ngữ. Gần đây, nhiều trung tâm điều trị bệnh tương đương với trường mẫu giáo đã ra đời, một số lớp đặc biệt đã có mặt trong các trường tiểu học và lớp dành riêng cho trẻ mắc bệnh tự kỷ cũng được đưa vào hoạt động.

 

Phòng ngừa

 

Vì nguyên nhân gây bệnh tự kỷ hiện nay vẫn chưa được làm sáng tỏ, nên việc phòng ngừa vẫn chưa rõ ràng. Tuy nhiên, tốt nhất là bạn không nên làm bệnh phát sinh trong thời gian mang thai, trước và sau khi mang thai, nhiễm trùng khi sinh hoặc thiếu các chất kích thích như chúng tôi miêu tả ở trên.

 

Bạn nên tham khảo ý kiến bác sĩ trong những trường hợp sau

 

Nếu trẻ biểu hiện những triệu chứng được liệt kê dưới đây từ 1-2 năm sau khi sinh, bạn nên mang trẻ đến gặp chuyên gia về tâm thần

- Không biểu lộ phản ứng và tránh nhìn thẳng vào mắt người khác.

- Lẩn tránh hoặc cảm thấy khó chịu khi ai chạm vào người hoặc da căng bởi vì bị phù.

- Không tỏ vẻ lo lắng và không có hành vi bắt chước chẳng hạn như vỗ tay và gật đầu mà những trẻ em khỏe mạnh khác thường làm.

- Hầu như không biết nói bập bẹ, giọng cao, không biết nói chuyện, không biết biểu lộ cảm xúc trên mặt.

- Tập trung vào món đồ chơi nhỏ, cố gắng không muốn mất món đồ chơi đó và khóc lóc thảm thiết và thậm chí la thét lên nếu ai đó lấy món đồ chơi đó đi.

- Phản ứng kịch liệt về những điều mới lạ, chẳng hạn như một bộ quần áo mới, món ăn lạ, hoặc những nơi bé chưa bao giờ đến.

- Tập trung vào một phần của món đồ chơi và chơi khác so với sự chỉ dẫn.

- Không có cảm giác lo lắng khi phải xa mẹ, ví dụ không có phản ứng gì khi mẹ ra vào phòng.

Leave a comment
Name *
Password *
Mail(Will not published)
Website
Comment *
Sắc đẹp & Phong cáchUng thư và Phòng ngừaLối sống lành mạnhSức khỏe tinh thần và stressGiới tính Nam/NữChủ đề nóng bỏng
ⓒ2007 HIDOC, Inc. All rights reserved. HIDOC does not provide medical advice, diagnosis or treatment. See additional information.