Search Contact Us Bookmark this page Admin
Sắc đẹp & Phong cáchUng thư và Phòng ngừaLối sống lành mạnhSức khỏe tinh thần và stressGiới tính Nam/NữChủ đề nóng bỏng
SiteMaps 탐색 건너뛰기 링크Hidoc Home > Sức khỏe tinh thần và stress > Tâm thần học (0-18)
Tâm thần học (0-18)
Bệnh trầm cảm ở trẻ em và thanh thiếu niên
[2007-09-18 09:29] (555)

Đặc điểm chung

 

Trầm cảm là một căn bệnh và đồng thời cũng là một triệu chứng. Thuật ngữ này thường được dùng phổ biến (cảm giác buồn phiền) và thuật ngữ này nghe chẳng có vẻ như một căn bệnh hay một triệu chứng. Chúng ta thường nhầm lẫn trầm cảm với cảm giác buồn rầu hoặc không vui. Đó chỉ là những cảm giác và những trạng thái tạm thời xảy ra với lý do rõ ràng và nó không kéo dài trong một thời gian lâu. Ví dụ cảm giác buồn rầu về cái chết của một người thân trong gia đình là một phản ứng tâm lý tự nhiên. Tuy nhiên, nỗi buồn rầu kéo dài, khó ngủ, bỏ ăn và không thể tập trung làm những công việc thuờng ngày là những trường hợp hiếm thấy. Có ý định tự tử vì quá buồn rầu và chán chường còn hiếm thấy hơn nữa. Trầm cảm là một căn bệnh và căn bệnh này tái hồi liên tục. Căn bệnh này cần phải được điều trị. Cho đến nay, bệnh trầm cảm được xem như là một căn bệnh gây ra do stress hoặc mâu thuẫn tâm lý. Gần đây, trầm cảm được xem như là một căn bệnh di truyền phát sinh do não bị sự cố và điều trị bằng thuốc trở thành một giải pháp quan trọng. Mặc dù tâm lý trị liệu không còn được sử dụng rộng rãi như trước đây nhưng hiện nay giải pháp này vẫn còn đem lại nhiều hiệu quả cao trong việc điều trị và phòng ngừa.

 

Từ đồng nghĩa

 

Trầm cảm còn có tên là bệnh trầm cảm chính (MDD), bệnh hưng cảm-trầm cảm (MDI) và buồn rầu. 

 

Định nghĩa

 

Mặc dù hiện nay người ta vẫn chưa phân biệt đâu là sự khác biệt giữa trầm cảm và nỗi buồn rầu. Trầm cảm khác biệt với cảm giác buồn phiền hoặc chán nản. Trầm cảm cũng có nghĩa là cảm giác buồn phiền chán nản, nhưng thêm vào đó là suy nghĩ bi quan và tiêu cực (ví dụ có những suy nghĩ về những điềm xấu sẽ xảy ra cho gia đình, suy nghĩ về những điều hư vô rằng bản thân không làm được tích sự gì). Một số thay đổi về sinh học cũng như hành vi ứng xử chẳng hạn như mất ngủ, ăn không ngon, mệt mỏi, mất hứng thú trong chuyện chăn gối cũng đi kèm với bệnh trầm cảm. Để có thể được gọi là bệnh trầm cảm, những điều kiện kể trên phải kéo dài trong một thời gian nhất định, và điều này khác với tâm trạng tạm thời. Chính vì vậy, không giống như tâm trạng buồn phiền hoặc chán nản tạm thời, trầm cảm là một căn bệnh. Trầm cảm là một căn bệnh có mặt lâu đời nhất trong y học và bệnh này có thể phát triển song song với những căn bệnh nan y khác.

 

Triệu chứng

 

1. Tâm trạng buồn phiền

Người mang bệnh sẽ có cảm giác buồn phiền, u sầu, và bi quan. Các bạn trẻ trong độ tuổi thành niên thường có tâm trạng không vui, rất dễ nhạy cảm và cáu gắt. Họ không cảm thấy dễ chịu ngay cả khi họ ở trong một tình trạng thoải mái.

 

2. Chức năng sinh lý có vấn đề

Triệu chứng chính thứ hai có liên quan đến chức năng sinh lý chẳng hạn như việc ăn uống và nghỉ ngơi. Vì bạn ăn không ngon miệng và làm biếng ăn, nên bạn giảm cân. Cũng có một số ít trường hợp bạn không giảm cân vì người thân buộc bạn phải ăn nhiều hoặc cũng có một số trường hợp bạn tăng cân vì ăn quá nhiều. Trầm cảm thường đi đôi với việc mất ngủ, thường giật mình thức giấc vào giữa đêm và thức giậy rất sớm. Nhiều bệnh nhân khi kiểm tra chế độ nghỉ ngơi, họ khám phá ra căn bệnh. Cũng tương tự như việc ăn ngon miệng, nhiều người chỉ muốn ngủ hoặc nằm nghỉ ngơi bởi vì lúc nào họ cũng cảm thấy mệt mỏi.

 

3. Lười tập thể thao và vận động cơ thể

Nói một cách khách quan, bệnh có thể phát sinh do thiếu năng lực hoặc do quá lo lắng. Cũng có trường hợp do chậm phát triển về tâm thần vận động. Triệu chứng biểu hiện bằng cách không nói chuyện với bất kỳ ai hàng giờ hoặc cứ nhìn vào không gian. Mặc dù họ có mặt trong buổi trò chuyện nhưng họ thường phát biểu qua loa với với một giọng trầm. Trái lại, họ cũng rất chống đối, lo lắng, nóng giận, đặc biệt, những triệu chứng này thường thấy phổ biến ở thanh thiếu niên, và các bạn trẻ còn biểu hiện nhiều triệu chứng khác. Ở một số trường hợp khi căn bệnh đã phát triển nặng, bạn không thể ngồi yên một chỗ và thường biểu hiện cảm giác lo lắng. Đối với những trường hợp khi bệnh mới bắt đầu, hoạt động tâm thần vận động giảm bởi vì bạn luôn cảm thấy mệt mỏi ngay cả khi bạn làm những công việc nhẹ, không hăng say trong công việc và thiếu năng lực, chính vì thế bạn nên đi khám bệnh.

 

4. Giảm khả năng suy nghĩ

Bạn thường cảm thấy có lỗi và vô dụng và thường dùng những từ ngữ như “Tôi quá vô dụng”, “Tôi chẳng chẳng làm được tích sự gì”, “Tôi là gánh nặng cho gia đình” và “Tất cả đều là lỗi của tôi và tôi làm quá nhiều lầm lỗi”. Vì bạn không tự tin vào chính bản thân nên bạn thường lẩn tránh công việc và thường trốn học hoặc bỏ công sở. Trí nhớ giảm, thiếu tập trung, suy nghĩ chậm chạp thường diễn ra. Kế đó, khả năng làm việc của bạn sẽ thua kém hơn trước đây. Đối với trường hợp khi bệnh phát triển nặng, bạn xem việc tự tử và cái chết như là cách “Biến đi cho khuất mắt mọi người”.

Trong đầu bạn lúc nào cũng nghĩ đến việc tự tử và thậm chí có ý định muốn tự tử.

Dĩ nhiên, không phải tất ý định tự tử đều liên quan đến bệnh trầm cảm. Ở một vài trường hợp, bệnh nhân bị ảo giác, cảm thấy có lỗi, bị ám ảnh bởi những câu nói như “Tốt hơn hết là tôi nên tự kết liễu đời mình”, “Tôi mắc một căn bệnh quá nguy hiểm”, “Bây giờ tôi phải đền tội cho quá khứ tội lỗi của tôi”. Những câu nói trên (đặc biệt những ảo giác) thường gặp ở các bạn trẻ và con số này chiếm từ 40-70%. Lo lắng về việc chia cách, sợ hãi, phạm pháp thường xảy ra đối với thanh thiếu niên mắc bệnh trầm cảm.

 

Nguyên nhân, điều kiện và sinh lý bệnh

 

Trước đây, nghiên cứu cho thấy trầm cảm phát sinh do stress hoặc mâu thuẫn tâm lý. Nhưng gần đây, quan niệm này đã thay đổi bởi vì mối tương quan giữa trầm cảm và những sự kiện gây stress chẳng hạn như làm ăn thua lỗ, thất tình và thi rớt hoặc mối quan hệ giao xã giao đổ vỡ, những sự kiện đau thương,… không còn được xem là một vấn đề nghiêm trọng như trước đây.

 

Trầm cảm còn được xem như là một căn bệnh di truyền phát sinh do Hormone và chất dẫn truyền thần kinh trong não mà nhiều lúc không dính dáng trực tiếp đến stress, tổn hại tâm lý và những mâu thuẫn khác. Một số yếu tố môi trường như stress, những yếu tố tâm lý có thể coi là những nguyên nhân phụ. 

 

Chẩn đoán

 

Yếu tố quan trọng để chẩn đoán bệnh trầm cảm là đánh giá triệu chứng bệnh, những căn bệnh khác hiện có, tình trạng tâm lý và xã hội, khả năng thực hiện công việc. Bệnh cũng cần được đánh giá và kiểm tra. Tiêu chuẩn chẩn đoán của viện tâm thần Mỹ (APA) và tổ chức sức khỏe thế giới (WHO) thường được nhiều người áp dụng để chẩn đoán. Mặc dù người ta có thể áp dụng những tiêu chuẩn chẩn trên, nhưng hiện nay người ta vẫn chưa tìm ra một dụng cụ chẩn đoán sinh học nào cụ thể.

 

Tiến trình phát triển và tiên lượng bệnh

 

Hiện nay nhiều triệu chứng bệnh khác nhau vẫn được tiếp tục theo dõi. Một mặt những triệu chứng như nội sinh, u sầu, rối loạn tâm thần, có ý định muốn tự tử, tỉ lệ tử vong và những triệu chứng khác ngày càng tăng. Mặt khác, lo lắng về việc chia cách, sợ hãi, những khó khăn trong hành vi ứng xử là những triệu chứng thường gặp ở trẻ em.Tỉ lệ bé nam mắc bệnh cũng tương đương với bé nữ, nhưng đối với các bạn trẻ trong độ tuổi thành niên, tỉ lệ nam thanh niên mắc bệnh tăng gấp đôi so với nữ, và đối với người lớn tỉ lệ này cũng tăng gấp đôi. Đối với trẻ em và những thanh thiếu niên, trầm cảm kéo dài từ 7-9 tháng. Khoảng 90% bệnh nhân bình phục sau 1,5-2 năm và 6-7% bệnh nhân vẫn tiếp tục chịu dằn vặt bởi căn bệnh. Bệnh trầm cảm cũng có khả năng tái phát rất cao, triệu chứng sẽ xuất hiện trong vòng 2 năm, con số này chiếm 40%, hoặc xuất hiện trong vòng 5 năm chiếm 70% . Khi đến giai đoạn trưởng thành, tỉ lệ bệnh tái phát chiếm khoảng 60-70%, và đối với người lớn, con số này chiếm khoảng 70% và trầm cảm thường là đơn cực. Ngoài ra, có khoảng 20-40% thanh thiếu niên mắc bệnh phát sinh trầm cảm lưỡng cực trong vòng 5 năm kể từ khi bệnh bắt đầu. Trường hợp bệnh còn ở thời kỳ đầu, trầm cảm sẽ trở thành một căn bệnh kinh niên và kéo dài trong khoảng 4 năm. Tỉ lệ mắc bệnh trầm cảm là 70%, bệnh lưỡng cực là 13%, và nghiện ngập là 15%. Trẻ có thể gặp nhiều trở ngại trong việc học tập và giao tiếp nhưng những triệu chứng này không phải là triệu chứng của bệnh trầm cảm. Bên cạnh đó, những vấn nạn như tự tử, giết người, hút thuốc, nghiện ngập và lạm dụng chất có hại cũng gia tăng.

 

Biến chứng

 

Những khó khăn trong việc học tập và giao tiếp cũng xảy ra khi trẻ buồn phiền nhưng không nhất thiết là trẻ mắc bệnh trầm cảm. Bên cạnh đó, những vấn nạn như tự tử, giết người, hút thuốc, nghiện ngập và lạm dụng những chất khác ngày càng gia tăng.

 

Điều trị

 

Trầm cảm ở thanh thiếu niên cũng giống hoặc tương tự như trầm cảm ở người lớn. Chính vì thế việc điều trị cũng tương tự như nhau nhưng bạn cũng nên xem xét một vài chi tiết chẳng hạn như khả năng nhận thức, khả năng hệ nội tiết và vai trò của nhà trường và phụ huynh. Như chúng tôi đã trình bày ở trên, chẩn đoán và đánh giá căn bệnh một cách rõ ràng là bước điều trị đầu tiên, đặc biệt là nguy cơ tự tử, đánh giá bệnh, yếu tố xã hội và tâm lý cần phải được xem xét. Điều trị bằng thuốc, bằng tâm lý và bằng nhận thức là những phương thức điều trị tổng quát. Nếu bệnh phát triển quá nặng, bệnh nhân cần được điều trị trong bệnh viện. Sau đây là những nguyên tắc điều trị tổng quát.

 

Một số nguyên tắc và hướng dẫn tổng quát để điều trị bệnh trầm cảm

 

1. Có một thái độ lạc quan và đầy hy vọng trong lần tiếp xúc đầu tiên

- Đánh giá mức độ nặng nhẹ của căn bệnh.

- Kiểm tra nguồn gốc hoặc trở ngại của căn bệnh.

- Kiểm tra thường xuyên ý định tự tử khi bệnh ở giai đoạn đầu.

 

2. Đánh giá yếu tố tâm lý và xã hội. Khi đánh giá bệnh, bạn nên xem xét sự khác biệt giữa cá nhân và văn hóa đồng thời khả năng chống trả lại căn bệnh.

 

3. Điều trị bằng tâm lý, đặc biệt điều trị bằng hành vi nhận thức. Phương thức này làm giảm nhẹ thái độ tự ti hoặc thái độ bi quan về bản thân.

 

4. Điều trị băng sinh học thường được áp dụng trong trường hợp bệnh đã phát triển nặng

- Chúng tôi khuyên bạn nên đem bệnh nhân đến khám tại bệnh viện khi bệnh phát triển quá nặng và bệnh nhân thường có ý định tự tử.

- Nên mang bệnh nhân đi khám 2 lần 1 tuần, mỗi lần khám bệnh khoảng 10-15 phút.

- Khi bệnh mới bắt đầu, nên điều trị bằng thuốc khoảng 16-20 tuần.

 

5. Một số dấu hiệu cho biết bệnh nhân cần phải nhập viện

- Có ý định tự tử hoặc có nguy cơ tự tử.

- Triệu chứng: mất ngủ nặng, nóng giận, mất hy vọng, tâm trạng thay đổi thất thường, biếng ăn, và có ảo giác.

- Lười biếng, không chịu làm bài tập hoặc bỏ học.

- Không chịu điều trị hoặc không chịu cộng tác với bác sĩ trong thời gian điều trị.

- Cơ thể biểu hiện một vài biến chứng hoặc cơ thể quá yếu.

 

Mặc dù phòng bệnh là một điều rất quan trọng nhưng phương pháp điều trị còn phải tùy thuộc vào mức độ nặng nhẹ của căn bệnh. Điều trị bắt đầu bằng việc ăn uống và nghỉ ngơi điều độ và điều trị khi bệnh mới bắt đầu giúp tránh được nhiều phiền toái có thể xảy ra. Những buổi khám bệnh cần phải được sắp xếp theo một thời gian cố định và thường xuyên nhưng mỗi lần khám không quá lâu. Nếu bệnh không quá nặng, tốt nhất bệnh nhân nên duy trì lối sống lành mạnh. Ngược lại, nếu bệnh phát triển nặng, bệnh nhân cần phải định giá việc điều trị bằng thuốc, nhập viện, ý định tự tử. Ý định tự tử thường tăng ở giai đoạn bình phục, chính vì thế bệnh nhân cần phải được theo dõi chặt chẽ. Khi bệnh bình phục hoàn toàn, bệnh nhân có thể quay trở về cuộc sống bình thường. Tương tự, bệnh nhân không nên tham gia ngay vào công việc thường ngày một cách vội vã ngay cả khi bệnh đã bình phục. Đối với bệnh trầm cảm, điều trị bằng thuốc đóng vai trò quan trọng, đặc biệt là thuốc Tricyclic Antidepressants (TCAs) được nhiều người sử dụng rộng rãi. Mặc dù thuốc này được công nhận là rất công hiệu cho người lớn, nhưng tác dụng của thuốc đối với trẻ em và thanh thiếu niên hiện nay vẫn chưa được công nhận. Lý do chưa rõ ràng và vẫn còn được nghiên cứu. Thêm vào đó, MAOI là một loại thuốc Anti-depressants thứ hai được chế biến và sử dụng, nhưng chỉ có vài nghiên cứu cho biết thuốc này thích hợp với trẻ em và thanh thiếu niên và tác dụng của thuốc hiện nay vẫn chưa được làm sáng tỏ. Gần đây, Selective Serotonin Reuptake Inhibitors (SSRIS) là thuốc được chế biến và được sử dụng rộng rãi cho rất nhiều trường hợp và thuốc chỉ để lại vài tác dụng phụ. Thuốc này cũng được dùng cho trẻ em và thanh thiếu niên và tác dụng của thuốc chiếm 70-90% trong lần thử nghiệm mở, và 56% trong lần nghiên cứu mù đôi so với thuốc an thần (chiếm 33%). Mặc dù hiện nay người ta vẫn chưa thu thập đầy đủ thông tin, nhưng người ta chứng minh rằng SSRIs đem lại nhiều ưu điểm và đem lại nhiều hiệu quả hơn so với TCAs. Gần đây, ngoài việc điều trị bằng tâm lý, người ta cũng áp dụng phương pháp điều trị bằng hành vi nhận thức (CBT). Nhận thức trị liệu biến những thái độ tiêu cực và thụ động chống lại bản thân và môi trường bên ngoài thành thái độ lạc quan và năng động bằng cách thay đổi những suy nghĩ bi quan và những trở ngại tâm lý. Những người mắc bệnh trầm cảm thường có quan điểm tiêu cực về quá khứ, hiện tại và tương lai. CBT giúp bệnh nhân thay đổi những suy nghĩ tiêu cực. Thông thường, bệnh nhân sẽ có khoảng 15-25 buổi điều trị trong vòng 12-16 tuần. Trong mỗi buổi như vậy, bác sĩ và bệnh nhân liệt kê những trở ngại và tìm phương pháp tâm lý giáo dục trước khi bắt đầu mỗi buổi. Bác sĩ hướng dẫn và giúp bệnh nhân đối phó với nhữngtrở ngại và hỗ trợ bệnh nhân giải quyết những khó khăn đó qua việc làm bài tập về nhà. Thêm vào đó, bệnh nhân cần phải học phương pháp tìm thấy sự  phấn khởi và niềm vui thú khi mình thành công trong việc gì đó, đồng thời học cách khắc phục chứng bệnh trầm cảm. Tâm thần trị liệu thường ít được áp dụng để điều trị bệnh ngay từ nhỏ nhưng chúng tôi khuyên các bạn không nên áp dụng phương pháp này. Bệnh trầm cảm sẽ tái phát liên hồi, chính vì thế việc phòng bệnh và phòng ngừa bệnh tái phát trở nên rất quan trọng, bệnh nhân cần phải điều trị trong một khoảng thời gian nhất định. Nếu bệnh nhân có người thân trong gia đình có lịch sử bị trầm cảm hoặc bệnh nhân đã từng mắc bệnh (trước 20 tuổi), những người này cần phải được theo dõi khi bệnh phát triển nặng. Kiểm tra ngay từ ban đầu, phòng ngừa và điều trị bệnh là điều cần thiết đối với trẻ em, các bạn trẻ và kể cả các bậc phụ huynh, giáo viên và hội đoàn.

 

Phòng ngừa

 

Phương pháp phòng ngừa bệnh trầm cảm hiện nay vẫn chưa được biết đến, nhưng những điều sau đây có thể rất công hiệu trong việc phòng ngừa bệnh tái phát và làm giảm triệu chứng bệnh.

 

1. Duy trì lối sống hằng ngày một cách đều đặn chẳng hạn như nghỉ ngơi, tập thể dục, và ăn uống.

2. Duy trì mối tương quan với những người xung quanh qua những hoạt động xã hội vui nhộn.

3. Để tâm trí khuây khỏa, bạn nên chia sẻ những khó khăn với những thành viên trong gia đình hoặc với bạn bè.

4. Không nên uống rượu nhiều, không nên dùng ma túy và ngủ vào ban ngày.

5. Nên đi khám bệnh nếu bạn không còn hứng thú trong công việc và có tâm trạng buồn phiền trong 2 tuần.

 

Tham khảo ý kiến bác sĩ trong những trường hợp sau

 

Nếu bạn không không còn hứng thú trong công việc và có tâm trạng buồn phiền trong 2 tuần, bạn nên đi đi khám bệnh ngay lập tức. Bệnh trầm cảm thường tái phát thường xuyên và căn bệnh này phát sinh do yếu tố di truyền. Chính vì thế khi bạn thấy dấu hiệu tái phát, bạn nên đi khám bệnh để có thể phòng ngừa được bệnh tái phát.

Leave a comment
Name *
Password *
Mail(Will not published)
Website
Comment *
Sắc đẹp & Phong cáchUng thư và Phòng ngừaLối sống lành mạnhSức khỏe tinh thần và stressGiới tính Nam/NữChủ đề nóng bỏng
ⓒ2007 HIDOC, Inc. All rights reserved. HIDOC does not provide medical advice, diagnosis or treatment. See additional information.