Search Contact Us Bookmark this page Admin
Sắc đẹp & Phong cáchUng thư và Phòng ngừaLối sống lành mạnhSức khỏe tinh thần và stressGiới tính Nam/NữChủ đề nóng bỏng
SiteMaps 탐색 건너뛰기 링크Hidoc Home > Sức khỏe tinh thần và stress > Tâm thần học (0-18)
Tâm thần học (0-18)
Rối loạn phát triển ngôn ngữ ở trẻ em (Rối loạn giao tiếp)
[2007-09-18 09:40] (679)

Đặc điểm chung

 

Ngôn ngữ là một phương pháp giao tiếp quan trọng nhất trong cuộc sống và trong mối quan hệ với người xung quanh. Ngôn ngữ không có sẵn khi chào đời, nhưng ngôn ngữ được tiếp thụ theo từng văn hóa và phát triển dần dần. Khi bé được 1 tuổi, bé bắt đầu bập bẹ một vài từ như “mama” hoặc “dada” và khi bé lên 2-3 tuổi, bé có thể nói được nhiều từ ngữ và câu văn hơn. Khi bé lên 3 tuổi, bé có thể nói câu dài như người lớn. Chính vì thế, nếu bé không thể diễn đạt ý nghĩ của mình khi bé lên 2-3 tuổi, có thể bé đã bị rối loạn phát triển ngôn ngữ. Lúc này chúng ta cũng nên biết rằng, ngôn ngữ không phải là phương pháp giao tiếp duy nhất. Khi chúng ta giao tiếp với ai đó, chúng ta nhận ra điều người khác muốn nói qua sự diễn đạt thể chất, nét mặt và điệu bộ của họ.

 

Nói cách khác, ngôn ngữ chỉ là một phần trong giao tiếp, nhưng không phải trường hợp nào cũng vậy. Ví dụ, cha mẹ có thể hiểu nhu cầu của bé qua cử chỉ của bé trước khi bé lên 1 tuổi, đây là lúc bé giao tiếp bằng cách dùng cử chỉ để diễn đạt. Giao tiếp thường ở dưới hình thức cử chỉ và hành động. Điều này có nghĩa là giao tiếp bằng cử chỉ xảy ra trước khi trẻ biết dùng ngôn ngữ. Chính vì thế chúng ta không thể nói rằng bé không thể giao tiếp nếu ngôn ngữ của bé bị trì trệ. Ngôn ngữ được hiểu như là một công cụ diễn đạt suy nghĩ của một người liên quan đến phát triển xã giao, nhận thức và trí thông minh hơn là việc chính bản thân bé mất khả năng phát triển ngôn ngữ. Chính vì thế nếu bé không biết nói hoặc chậm nói, chắc chắn sẽ có nhiều nguyên nhân.

 

Từ đồng nghĩa

 

Rối loạn giao tiếp, rối loạn phát triển ngôn ngữ còn được gọi là: trẻ chậm nói, mất ngôn ngữ.

 

Định nghĩa

 

Rối loạn ngôn ngữ được phân thành hai loại

 

1. Rối loạn ngôn ngữ diễn đạt

Ngôn ngữ cũng có hai loại, loại thứ nhất là hiểu những gì người khác nói (ngôn ngữ tiếp thụ), và loại thứ hai là trả lời và diễn đạt suy nghĩ của mình (ngôn ngữ diễn đạt). Ở một số trường hợp, trẻ em có trí thông minh ở mức bình thường có thể hiểu điều người khác muốn nói nhưng không thể diễn đạt suy nghĩ của mình. Đây còn được gọi là rối loạn ngôn ngữ diễn đạt.

 

2. Rối loạn ngôn ngữ tiếp thụ

Rối loạn ngôn ngữ tiếp thụ còn có nghĩa là trẻ gặp một số trở ngại trong tiến trình tiếp thụ.

 

Triệu chứng

 

1. Triệu chứng rối loạn ngôn ngữ diễn đạt

Khi cha mẹ yêu cầu bé điều gì, bé hiểu và làm theo, nhưng bé không thể diễn đạt bằng ngôn từ của mình. Dĩ nhiên, bé có thể diễn đạt điều mình muốn bằng cử chỉ. Điều này có nghĩa là bé còn có khả năng diễn đạt bằng cử điều bé muốn theo từng hoàn cảnh khác nhau. Người ta còn gọi bé là “trẻ chậm nói”. Trẻ em bị rối loạn phát triển ngôn ngữ diễn đạt có thể phát triển bình thường một khi trẻ bắt đầu bập bẹ tập nói. Tuy nhiên, trẻ trẻ sẽ gặp nhiều khó khăn trong việc phát âm và phải mất nhiều thời gian học từ mới một khi trẻ tập nói. Ở hầu hết các trường hợp, trẻ bị rối loạn phát triển ngôn ngữ thường không bị ảnh hưởng về phát triển hành vi ứng xử, trí tuệ hoặc về thể chất.

 

2. Triệu chứng của bệnh rối loạn ngôn ngữ tiếp thụ

Khi trẻ gặp khó khăn về ngôn ngữ, trẻ sẽ không hiểu người khác nói gì. Tuy nhiên, trẻ có thể đoán và phản ứng lại cử chỉ của người khác chẳng hạn như hành động, nét mặt và cảm xúc từ cha mẹ. Trẻ không hiểu điều cha mẹ muốn nói nếu như không có biểu hiện trên đi kèm, ngay cả khi được giải thích rõ ràng. Rối loạn ngôn ngữ tiếp thụ luôn luôn đi kèm với rối loạn ngôn ngữ diễn đạt. Vì khi trẻ không hiểu, trẻ chậm biết diễn đạt và thường gặp khó khăn. Chính vì thế, trẻ bị rối loạn ngôn ngữ tiếp thụ còn được gọi là rối loạn ngôn ngữ diễn đạt-tiếp thụ hỗn hợp. Trẻ sẽ gặp nhiều khó khăn trong cuộc sống và học tập vì không thể giao tiếp. Rối loạn ngôn ngữ tiếp thụ còn nguy hiểm hơn rối loạn ngôn ngữ diễn đạt. Trẻ tự nhiên tránh tiếp xúc với mọi người vì trẻ không hiểu và không thích giao tiếp. Bệnh này cũng tương tự như bệnh tự kỷ. Tuy nhiên, trẻ em mắc bệnh này có mối tương quan tốt, nhất là với cha mẹ hơn so với trẻ mắc bệnh tự kỷ.

 

Nguyên nhân, điều kiện và sinh lý bệnh

 

Giao tiếp là một khả năng tiêu biểu của loài người, tuy nhiên cũng có nhiều lý do khác nhau làm trì trệ hoặc ảnh hưởng đến khả năng giao tiếp. Trì trệ ngôn ngữ hoặc khó khăn về ngôn ngữ thường do ảnh hưởng của việc diễn đạt bởi vì chức năng phát triển ngôn ngữ cần phải hòa hợp với những chức năng khác.

 

1. Chậm phát triển trí tuệ

Trẻ em chậm phát triển trí tuệ thường chậm phát triển về thể chất, trí tuệ và hành vi ứng xử, và đặc biệt là chậm phát triển về chức năng nhận thức, kéo theo việc phát triển ngôn ngữ. Ví dụ, nếu bé biết nói khi bé lên 2 tuổi, bé sẽ chậm phát triển về thể chất và trí tuệ, điều này có nghĩa là ngôn ngữ của bé gạp nhiều khó khăn và bé chậm phát triển. Trường hợp bé chậm phát triển một cách tổng quát, chậm phát triển trí tuệ sẽ chiếm 3%, và đây cũng là lý do bé bị rối loạn phát triển ngôn ngữ.  

 

2. Thính giác có vấn đề (câm, điếc)

Điều này cũng ảnh hưởng đến sự phát triển của thính giác. Trẻ có thính giác bất thường hoặc không nghe được thường chậm phát triển về ngôn ngữ. Dĩ nhiên, bạn có thể biết nếu trẻ không nghe được hoặc không phản ứng lại âm thanh. Mặc dù trẻ có ngôn ngữ, nhưng trẻ mất đi khả năng nghe có thể hiểu bằng trực giác và thị giác và có thể diễn đạt qua cử chỉ. Chúng ta không thể khẳng định trẻ không thể nói chút nào.

 

3. Trì trệ phát triển ngôn ngữ gây tổn hại não và một số rối loạn thần kinh

Trẻ em bị rối loạn não từ lúc mới sinh chẳng hạn như bệnh động kinh hoặc u não cũng có thể chậm phát triển ngôn ngữ hoặc rối loạn phát triển ngôn ngữ. Trường hợp này còn được gọi là rối loạn phát triển ngôn ngữ bậc hai phát sinh do rối loạn não.

 

4. Bệnh tự kỷ và rối loạn thần kinh

Trẻ em mắc bệnh tự kỷ không thể phát triển khả năng ngôn ngữ và khả năng giao tiếp vì đây là những triệu chứng của bệnh tự kỷ. Đối với trẻ mắc bệnh tự kỷ, trẻ không thích tiếp xúc với người khác và ngôn ngữ của trẻ sẽ chậm phát triển vì trẻ tránh gặp mọi nguời. Chậm phát triển ngôn ngữ còn là một vấn đề giao tiếp. Chính vì vậy, trẻ em mắc bệnh tự kỷ thường chậm phát triển ngôn ngữ  hoặc bị rối loạn ngôn ngữ ở một mức độ nào đó. Đồng thời, chậm phát triển ngôn ngữ hoặc rối loạn ngôn ngữ có thể được theo dõi một cách dễ dàng đối với trẻ mắc bệnh nặng và bệnh thiếu tập trung/quá hiếu động (ADHD).

 

5. Yếu tố môi trường chẳng hạn như ít tiếp xúc và những tác nhân kích thích khác

Trẻ em thiếu tiếp xúc và do ảnh hưởng của những tác nhân khác làm chậm phát triển ngôn ngữ. Phát triển ngôn ngữ có thể hoàn tất dưới hình thức ngôn ngữ và giáo dục từ cha mẹ và những người thân chung quanh. Nhưng ngôn ngữ của trẻ dễ dàng bị trì trệ nếu trẻ bị ảnh hưởng bởi những tác nhân như cha mẹ mắc bạn bị trầm cảm, trẻ bị lạm dụng, bỏ rơi và chăm sóc không chu đáo. Nếu những nguyên nhân gây bệnh trên được loại bỏ, ngôn ngữ sẽ dần dần cải thiện một cách trôi chảy.

 

6. Rối loạn ngôn ngữ phát triển đặc biệt

Cho đến nay, rối loạn phát triển ngôn ngữ là một căn bệnh đã được chúng tôi trình bày như trên, tuy nhiên vẫn có một vài trẻ bị rối loạn phát triển ngôn ngữ mà không mắc bệnh nào hoặc không do nguyên nhân nào. Chúng ta thường dễ dàng thấy một vài trẻ được đem đến gặp chuyên gia khi bệnh đã phát triển nặng và trẻ được mô tả bằng những từ ngữ như “chậm nói”, “bé giống cha biết nói khi lên 4” và “bé biết nói nhiều khi lên 5”. Rối loạn phát triển ngôn ngữ còn được dùng trong trường hợp không có nguyên nhân cụ thể hoặc không có lý do nào khác và những chức năng khác của trẻ mắc bệnh này vẫn phát triển bình thường. Nói cách khác, những chức năng khác vẫn phát triển bình thường, ngoại trừ phát triển ngôn ngữ.

 

Chẩn đoán

 

Rối loạn phát triển ngôn ngữ có thể phát sinh bởi nhiều nguyên nhân như chúng tôi đề cập ở trên. Bạn nên đem trẻ bị rối loạn ngôn ngữ phát triển đến gặp chuyên gia khi thấy trẻ chậm phát triển ngôn ngữ chẳng hạn như không phản ứng khi được gọi tên hoặc không biết nói khi lên 2 hoặc 3 tuổi. Bạn nên mang trẻ đi khám bác sĩ hoặc bác sĩ tâm thần để có thể đánh giá một số chức năng như ngôn ngữ, trí thông minh, tâm lý và thần kinh. Kiểm tra thần kinh và chức năng não thường được thực hiện để kiểm tra bất kỳ căn bệnh nào cũng như được dùng trong việc điều trị bệnh tự kỷ, một số rối loạn tâm lý hoặc những yếu tố môi trường. Sau khi kiểm tra, rối loạn ngôn ngữ có thể được chẩn đoán và bác sĩ có thể kết luận đây là rối loạn ngôn ngữ diễn đạt hay rối loạn ngôn ngữ tiếp thụ.

 

Tiến trình phát triển và tiên lượng bệnh

 

Rối loạn phát triển ngôn ngữ có thể phát sinh bởi nhiều nguyên nhân như chúng tôi đề cập ở trên. Bạn nên đem trẻ bị rối loạn ngôn ngữ phát triển đến gặp chuyên gia khi thấy trẻ chậm phát triển ngôn ngữ chẳng hạn như không phản ứng khi được gọi tên hoặc không biết nói khi lên 2 hoặc 3 tuổi. Bạn nên mang trẻ đi khám bác sĩ hoặc bác sĩ tâm thần để có thể đánh giá một số chức năng như ngôn ngữ, trí thông minh, tâm lý và thần kinh. Kiểm tra thần kinh và chức năng não thường được thực hiện để kiểm tra bất kỳ căn bệnh nào cũng như được dùng trong việc điều trị bệnh tự kỷ, một số rối loạn tâm lý hoặc những yếu tố môi trường. Sau khi kiểm tra, rối loạn ngôn ngữ có thể được chẩn đoán và bác sĩ có thể kết luận đây là rối loạn ngôn ngữ diễn đạt hay rối loạn ngôn ngữ tiếp thụ.

 

Điều trị

 

Điều trị cũng còn tùy thuộc vào việc chẩn đoán bệnh. Nếu rối loạn phát triển ngôn ngữ thuộc bậc hai, đứng sau các rối loạn bậc một như chậm phát triển trí tuệ, thính giác có vấn đề, bệnh tự kỷ, trẻ cần phải được điều trị những căn bệnh này trước khi điều trị ngôn ngữ. Đối với trường hợp rối loạn ngôn ngữ, trẻ phải điều trị ngôn ngữ trước. Bác sĩ chuyên khoa ngôn ngữ có thể áp dụng biện pháp điều trị dài hạn theo nhóm nhỏ hoặc theo từng cá nhân. Các bậc phụ huynh cần phải đánh giá môi trường xung quanh trẻ, mối quan hệ giữa cha mẹ và trẻ, yếu tố ngôn ngữ cũng như sự gắn bó hoặc thờ ơ của cha mẹ. Nếu như yếu tố môi trường ảnh hưởng đến trẻ ở một mức độ nào đó, phụ huynh cần phải chỉnh đốn lại. Bệnh sẽ dễ dàng điều trị nếu bệnh chưa phát triển nặng. Tuy nhiên ở hầu hết các trường hợp, sự ủng hộ của các chuyên gia trở nên rất cần thiết vì sự nỗ lựcc cố gắng của cha mẹ chưa đủ. Mặc dù trẻ được điều trị tốt, nhưng vẫn còn thiếu nhiều yếu tố. Các bậc phụ huynh cần phải được chuẩn bị chu đáo cùng với sự trợ giúp của bác sĩ  để họ có thể “làm thế nào dạy trẻ ngôn ngữ” và “làm thế nào để biến ngôi nhà thành một môi trường giúp trẻ phát huy ngôn ngữ”. Là cha mẹ, họ cần phải đến gặp chuyên gia tâm thần trẻ em để có thể phân biệt được nguyên nhân và vấn đề có liên quan và họ cũng cần được trợ giúp đỡ về mặt giáo dục, điều trị ngôn ngữ và hỗ trợ của giáo viên ở trường.

 

Tham khảo ý kiến bác sĩ trong những trường hợp sau

 

Nếu bạn thấy trẻ chậm phát triển ngôn ngữ khi trẻ lên 1 hoặc 2, bạn nên đem trẻ đến gặp bác sĩ chuyên khoa để có thể tìm ra nguyên nhân và điều trị kịp thời. Nếu bạn không tham khảo ý kiến bác sĩ kịp thời, bạn có thể bỏ lỡ cơ hội điều trị bởi vì những lời khuyên tai hại như “ngôn ngữ có thể bị trì trệ” và “đó là truyền thống của gia đình”.

Leave a comment
Name *
Password *
Mail(Will not published)
Website
Comment *
Sắc đẹp & Phong cáchUng thư và Phòng ngừaLối sống lành mạnhSức khỏe tinh thần và stressGiới tính Nam/NữChủ đề nóng bỏng
ⓒ2007 HIDOC, Inc. All rights reserved. HIDOC does not provide medical advice, diagnosis or treatment. See additional information.