Search Contact Us Bookmark this page Admin
Sắc đẹp & Phong cáchUng thư và Phòng ngừaLối sống lành mạnhSức khỏe tinh thần và stressGiới tính Nam/NữChủ đề nóng bỏng
SiteMaps 탐색 건너뛰기 링크Hidoc Home > Sức khỏe tinh thần và stress > Glossary
Sức khỏe tinh thần và stress : Glossary
Rối loạn ám ảnh-ép buộc
[2007-09-18 06:45] (1,287)

Đặc điểm chung

 

Triệu chứng chính của rối loạn ám ảnh-ép buộc (OCD) là bệnh nhân thường có những suy nghĩ lập đi lập lại hoặc có những hành vi ép buộc. Ví dụ một người luôn luôn rửa tay vì nghĩ rằng tay họ không sạch. Rối loạn ám ảnh-ép buộc còn có nghĩa là một người có lối suy nghĩ và có những hành vi vô nghĩa lập đi lập lại.

 

Từ đồng nghĩa

 

Rối loạn hành vi ép buộc, rối loạn ám ảnh

 

Định nghĩa

 

Rối loạn ám ảnh-ép buộc (OCD) là một thuật ngữ được dùng để diễn tả một căn bệnh trong đó bệnh nhân có những suy nghĩ cứ lập đi lập lại và có những hành vi trái ngược với ý họ. Bệnh nhân biết rằng những hành động này vô nghĩa và vô lý, tuy nhiên, họ không thể điều khiển hành vi của mình. Nếu họ dừng, họ sẽ có cảm giác không an toàn. Mặc dù chúng ta nhĩ rằng rối loạn ám ảnh-ép buộc là một căn bệnh còn mơ hồ, nhưng nghiên cứu cho thấy số người mắc bệnh chiếm từ 2-3% tổng dân số.

 

Triệu chứng

 

Triệu chứng chính của rối loạn ám ảnh-ép buộc (OCD) là bệnh nhân thường có những suy nghĩ lập đi lập lại hoặc có những hành vi ép buộc. Bệnh nhân biểu hiện một số đặc điểm của rối loạn tính cách, ám ảnh về sự thân thiện, luật lệ, tổ chức, chính xác và chi tiết. Một số bệnh nhân chỉ biểu hiện một số suy nghĩ ám ảnh, nhưng hầu hết bệnh nhân biểu hiện vừa suy nghĩ ám ảnh và vừa có những hành vi ép buộc. Cũng có những trường hợp bệnh nhân không biểu hiện triệu chứng nào, và điều này làm họ trầm cảm, có cảm giác không an toàn hoặc có những biểu hiện khác.

 

Suy nghĩ ám ảnh

Bất chấp quyết tâm của họ, bệnh nhân vẫn có lối suy nghĩ, ý kiến, hình ảnh hoặc một điều gì đó thôi thúc họ. Khi họ đè nén hoặc gạt những suy nghĩ này qua một bên, những suy nghĩ càng trở nên rõ hơn và bệnh nhân bắt đầu biểu hiện những triệu chứng không an toàn. Sau đây là một số ví dụ của suy nghĩ ép buộc:

 

- Ô nhiễm (Vệ sinh): Có phải tôi lây một số mầm bệnh hoặc chất mất vệ sinh?

- Nghi ngờ: Liệu người đó có trả tôi số tiền hắn mượn tôi?

- Lập đi lập lại những suy nghĩ về cơ thể: Cơ thể của tôi có mắc bệnh gì không đây?

- Ngăn nắp: Những quyển sách trên bàn tôi có ngăn nắp và gọn gàng không?

- Bạo lực và tội phạm: Không biết tôi có làm đứa trẻ bị tổn thương hoặc hành hung người khác không nữa?

- Tưởng tượng về tình dục: Thường xuyên mơ tưởng đến chuyện tình dục.

 

Ở Hàn Quốc, hầu hết những ca bệnh đều tập trung vào các thể loại như: nghi ngờ, vệ sinh, ngăn nắp. Nếu bệnh nhân lập đi lập lại nhiều lối suy nghĩ giống nhau và bị ám ảnh bởi một lối suy nghĩ mà quên đi những chuyện khác, bệnh nhân có thể được chẩn đoán là đã mắc chứng tư lự ám ảnh.

 

Hành vi ép buộc

Hành vi này là kết quả của lối suy nghĩ ám ảnh. Bệnh nhân tự động lập đi lập lại một hành vi cụ thể nào đó, ngoài ý muốn của họ. Họ càng lẩn tránh, họ càng lập đi lập lại cùng một hành vi. Sau khi lập đi lập lại cùng một hành vi đến một chừng mực nào đó, bệnh nhân mới cảm thấy thư giãn. Đây quả thật là một nghi thức làm bệnh nhân có cảm giác không an toàn nếu họ phải dừng lại. Sau đây là một số loại hình của hành vi ép buộc:

 

- Liên tục tìm kiếm sự cam đoan và sự chấp thuận chắc chắn từ người khác

- Rửa tay thường xuyên

- Cứ liên tục đếm tới đếm lui một số nhất định nào đó

- Liên tục chạm vào vật nào đó

 

Nguyên nhân, điều kiện và sinh lý bệnh

 

Rối loạn ám ảnh-ép buộc có liên quan mật thiết đến yếu tố di truyền. Hầu hết, con của những người mắc bệnh rối loạn ám ảnh-ép buộc đều nhiễm bệnh. Người ta lý giải rằng cha mẹ hình thành phương pháp nuôi dạy con cái và phương pháp này được truyền cho người con. Tuy nhiên, một số trẻ lại không nhiễm bệnh. Do đó, hành vi của cha mẹ trong việc nuôi dạy con cái không đủ để lý giải cho tất cả trường hợp. Rối loạn ám ảnh-ép buộc và sự phát triển của căn bệnh không do những yếu tố bên ngoài nhưng bị lệ thuộc vào yếu tố bên trong. Dĩ nhiên, có những trường hợp triệu chứng này phát triển nặng hơn do yếu tố môi trường. Về phương diện hóa sinh, thành phần Serotonin cũng có liên quan đến chứng rối loạn ám ảnh-ép buộc và điều kiện sinh lý bệnh, nhất là khi bạn nhìn nó ở khía cạnh thần kinh, thùy não, nhân đuôi và não hồi.

 

Tiến trình phát triển và tiên lượng bệnh

 

Rối loạn ám ảnh-ép buộc thường thấy phổ biến ở thanh thiếu niên hoặc ở những người trẻ tuổi. Tỉ số nam và nữ mắc chứng rối loạn này vẫn chưa biết chính xác. Rối loạn ám ảnh-ép buộc được coi là một căn bệnh mãn tính. Tiên lượng rối loạn ám ảnh-ép buộc còn tồi tệ hơn những rối loạn khác. Nó ảnh hưởng đến đời sống cá nhân và đời sống xã hội của bệnh nhân và đối với một số trường hợp khi căn bệnh phát triển quá nặng, bệnh nhân tránh giao tiếp với người chung quanh.


Nói chung, những trường hợp sau có tiên lượng khả quan

- Nếu triệu chứng chỉ xuất hiện trong một khoảng thời gian ngắn trước khi điều trị

- Nếu bệnh nhân đã từng có khả năng thích nghi với xã hội

- Nếu tính cách bệnh nhân trước khi mắc chứng rối loạn này không quá khắt khe.

- Nếu rối loạn này xảy ra không thường xuyên

 

Những trường hợp sau có tiên lượng không mấy khả quan:

- Nếu bệnh nhân có tính cách quá khắt khe

- Nếu triệu chứng bệnh càng ngày càng nặng hơn trong lần khám bệnh đầu tiên

- Bệnh nhân mắc chứng rối loạn này từ nhỏ.

 

Điều trị

 

Vì rối loạn ám ảnh-ép buộc (OCD) là một căn bệnh mãn tính với nhiều tiền sử khác nhau, nên chế độ điều trị nên được thực hiện dựa trên điều kiện và đặc điểm của từng cá nhân. Người ta cũng xem đây là một căn bệnh khó điều trị, nhưng bệnh nhân OCD có thể điều trị bằng dược phẩm hoặc hành vi trị liệu. Tuy nhiên người ta có thể dùng tâm lý trị liệu, hành vi-nhận thức trị liệu (CBT), dược phẩm trị liệu, phẫu thuật… là những biện pháp thường được dùng. Nhưng đặc biệt, dược phẩm trị liệu và hành vi-nhận thức trị liệu là hai biện pháp thường được áp dụng nhiều nhất.

 

Dược phẩm trị liệu

Các chất ức chế tái hấp thụ Serotonin có chọn lọc (SSRI) chẳng hạn như Fluvoxamine, Fluoxetine, Sertraline, Paroxetine, và Clomipramine có thể được áp dụng. SSRI chỉ được dùng cho người lớn tuổi có biểu hiện triệu chứng nặng, không bị lệ thuộc và không điều trị cùng với CBT (hành vi-nhận thứ trị liệu). Clomipramine chỉ được phép dùng khi SSRI không đem lại hiệu quả sau vài lần điều trị. Sau khi triệu chứng giảm dần, bạn nên tiếp tục điều trị để phòng ngừa bệnh tái phát. Mặc dù căn bệnh giảm nhẹ ở một góc độ nào đó, nhưng bạn nên tiếp tục uống thuốc ít nhất là 1 năm. Trường hợp bệnh tái phát từ 3-4 lần, bạn cần phải điều trị lâu dài.

 

CBT (Hành vi-nhận thức trị liệu)

Chúng tôi khuyên bệnh nhân mắc chứng OCD nên chọn CBT càng nhiều càng tốt. Những trường hợp sau yêu cầu bạn nên áp dụng phương pháp hành vi-nhận thức trị liệu.

- Dược phẩm trị liệu không có tác dụng

- Dược phẩm trị liệu không thỏa đáng

- Dược phẩm trị liệu gây tác dụng phụ

- Bệnh nhân không được phép điều trị bằng dược phẩm

 

Thẫu thuật

Có khoảng 20-30% bệnh nhân mắc chứng OCD không phản ứng lại dược phẩm trị liệu hoặc hành vi-nhận thức trị liệu (OCD). Trong những trường hợp như vậy, bệnh nhân buộc phải phẫu thuật. Một phần não hồi và hệ bản tính sẽ được cắt bỏ. Người ta cho biết, có khoảng 30-40% bệnh nhân đã bình phục bằng cách áp dụng biện pháp này.

 

Tham khảo ý kiến bác sĩ trong những trường hợp sau

 

Đối với những người thường xuyên suy nghĩ liên miên và hành động theo những suy nghĩ này, những người này nên đi khám bác sĩ chuyên khoa.

Sắc đẹp & Phong cáchUng thư và Phòng ngừaLối sống lành mạnhSức khỏe tinh thần và stressGiới tính Nam/NữChủ đề nóng bỏng
ⓒ2007 HIDOC, Inc. All rights reserved. HIDOC does not provide medical advice, diagnosis or treatment. See additional information.