Search Contact Us Bookmark this page Admin
Sắc đẹp & Phong cáchUng thư và Phòng ngừaLối sống lành mạnhSức khỏe tinh thần và stressGiới tính Nam/NữChủ đề nóng bỏng
SiteMaps 탐색 건너뛰기 링크Hidoc Home > Sức khỏe tinh thần và stress > Glossary
Sức khỏe tinh thần và stress : Glossary
Rối loạn ăn uống
[2007-09-18 06:51] (1,155)

Đặc điểm chung

 

Rối loạn ăn ám chỉ những người thường bị ám ảnh về thể tạng và cân nặng. Họ luôn gặp khó khăn trong việc kiềm chế thức ăn. Thông thường, rối loạn này bao gồm chứng biếng ăn thần kinh và chứng ăn vô độ thần kinh. Mỗi rối loạn có đặc điểm khác nhau, nhưng có nhiều người mắc hai rối loạn cùng một lúc. Đặc điểm của chứng biếng ăn thần kinh là người bệnh kiêng ăn và họ muốn duy trì cân. Đặc điểm của chứng ăn vô độ thần kinh là người bệnh ăn liên tục và ăn quá nhiều, sau đó tìm cách tự làm mình ói ra, uống thuốc lợi tiểu, nhịn đói và tập thể dục quá nhiều. Xuống nhiều cân cũng gây ra một số biến chứng, và thậm chí có thể dẫn đến tử vong. Ngay cả khi bệnh không quá nặng, căn bệnh cũng có thể gây ảnh hưởng không tốt cho thanh thiếu niên ở giai đoạn phát triển. Chứng bệnh này cũng gây nhiều biến chứng và gây trở ngại trong cuộc sống xã giao. Nhiều người không xem đây là một căn bệnh. Nếu bệnh nhân không nhận ra căn bệnh này khi nó còn ở giai đoạn đầu và nếu bệnh nhân không được điều trị kịp thời, bệnh nhân sẽ gặp khó khăn trong việc phát triển bình thường. Coi nhẹ triệu chứng có thể sẽ rất nguy hiểm. Gần đây, người ta điều trị căn bệnh bằng cách dùng thuốc, hành vi hoặc nhận thức, tâm lí và đối với một số trường hợp nguy khi bệnh đã phát triển nặng, bệnh nhân cần phải nhập viện.

 

Từ đồng nghĩa

 

Tên bệnh: Một số từ có liên quan đến rối loạn ăn uống: chứng ăn vô độ và chứng biếng ăn thần kinh.

 

Định nghĩa

 

Định nghĩa chứng biếng ăn thần kinh

Biếng ăn thần kinh xảy ra khi bệnh nhân từ chối ăn uống vì sợ lên cân và họ cố gắng duy trì trọng lượng cơ thể dưới mức trung bình.

A. Từ chối duy trì cân ở mức tối thiểu, tính theo tuổi tác và kích cỡ (Dưới 85% mức cân lý tưởng).

B. Sợ lên cân, cho dù cho dù họ vẫn còn dưới mức trung bình.

C. Có những suy nghĩ lệch lạc về hình dáng cơ thể (Cơ thể, kích thước, hình dáng)

D. Đối với phụ nữ, không có kinh nguyệt trong 3 tháng.

 

Định nghĩa chứng ăn vô độ thần kinh

Bệnh nhân mắc chứng ăn vô độ thần kinh thường rất nhạy cảm về cân nặng, hình dáng và có những hành vi đền bù cho chứng ăn vô độ.

A. Ăn uống vô độ. Ăn uống vô độ diễn tả thói quen ăn một lượng thức ăn nhiều hơn người bình thường trong một khoảng thời gian (2 tiếng) và họ không thể kiểm soát được lượng thức ăn. 

B. Bệnh nhân có những hành động như (tự làm mình ói ra, dùng thuốc lợi tiểu, nhịn đói, hoặc tập thể thao quá sức) để giảm cân.

C. Thói quen ăn uống vô độ và và những hành vi nói trên kéo dài suốt 3 tháng, mỗi tuần khoảng 2 lần.

D. Bệnh nhân quá lo lắng về dáng vóc cơ thể và điều này ảnh hưởng đến sự đánh giá của họ về chính bản thân.

 

Triệu chứng

 

Triệu chứng của biếng ăn thần kinh

A. Biếng ăn thần kinh chiếm từ 0,1-0,7% đối với người lớn, 0,5-1,0% đối với thanh thiếu niên và đối với học sinh sinh viên, con số này lên đến 1%.

B. Khi quan sát địa vị xã hội, chứng biếng ăn thần kinh chiếm tỉ lệ cao ở tầng lớp trung bình, và phụ nữ có khuynh hướng mắc bệnh này nhiều hơn nam giới. Ở phụ nữ, căn bệnh này chiếm từ 10-20 lần so với nam giới và chiếm khoảng 90% tổng số bệnh nhân.

C. Thông thường, căn bệnh này xảy ra ở những người có độ tuổi từ 10-30 và những người này thuộc nhóm tuổi 13-14 và 17-18. Ở Hàn Quốc, bệnh nhân ở nhóm tuổi này chiếm tỉ lệ cao hơn so với những nước khác.

D. Những bệnh nhân này không phải là những người biếng ăn, nhưng họ rất sợ hãi về việc ăn uống. Nói cách khác, trông họ không có vẻ biếng ăn, nhưng họ quá sợ về việc ăn uống đến nỗi họ không thể ăn đi được.

E. Ở nhiều trường hợp, chứng biếng ăn vô độ thần kinh thường đi kèm hoặc đi trước bởi chứng ăn vô độ thần kinh.

F. Căn bệnh này ảnh hưởng đến cơ thể và gây một số biến chứng lâm sàng. Tuy nhiên, ở hầu hết các trường hợp, khi biến chứng trở nên quá nặng và nếu bệnh nhân không ở trong trạng thái hôn mê, chức năng cơ thể duy trì ở mức độ bình thường.

 

Triệu chứng của chứng ăn vô độ thần kinh

Đặc điểm chính của căn bệnh này là ăn quá nhiều. Bệnh nhân hầu như không ăn sáng và chỉ ăn nhẹ bào buổi trưa hoặc thậm chí nhịn đói. Vào buổi chiều, bệnh nhân ăn uống thừa mứa và không thể kiểm soát được lượng thức ăn. Vào buổi tối, bệnh nhân cảm thấy khó chịu trong người và ân hận về hành động của mình, do đó họ tìm cách tự làm mình ói ra hoặc dùng thuốc lợi tiểu… Những đặc điểm trên khiến họ phải giấu thức ăn, ăn một mình và đối với một số trường hợp khi bệnh đã phát triển quá nặng, bệnh nhân ăn đồ họ ói ra.

 

Nguyên nhân, điều kiện và sinh lý bệnh

 

Nguyên nhân dẫn đến chứng biếng ăn thần kinh

A. Lý do tâm lý nâng cao tính độc lập, chức năng xã hội và giới tính của thanh thiếu niên và họ có những biểu hiện tiêu cực về những chức năng này.

B. Căn bệnh này liên quan đến việc quá bận tâm và chịu áp lực bởi một thân hình mảnh mai, tập thể thao và sự hấp dẫn cơ thể.

C. Khó khăn gia đình và xung đột với cha mẹ.

D. Trầm cảm, hoặc một số lý do liên quan đến Endorphin.

 

Nguyên nhân dẫn đến chứng ăn vô độ thần kinh

Hiện nay, người ta vẫn chưa tìm ra nguyên nhân gây bệnh cụ thể. Tuy nhiên, một thân hình mong manh và có nhiều Endorphin được coi là một nguyên lý tiêu chuẩn trong xã hội được. Nguyên lý khác nói rằng ăn quá nhiều là kết quả tâm sinh lý của việc nhịn đói và những hành động đền bù cho chứng ăn vô độ làm giảm cảm giác không an toàn và căng thẳng gây ra do ăn quá nhiều. Thậm chí có nhiều nguyên lý đề cập đến sự thiếu khả năng thích nghi và xung đột tâm lý giữa các thành viên trong gia đình cũng có thể gây triệu chứng này. Khi nói đến nguyên nhân, người ta cũng muốn để cập đến một điểm thú vị thường xảy ra ở các nước Đông Nam Á. Đặc biệt, Nhật Bản là nước có tỉ lệ cao nhất. Rối loạn ăn uống không phổ biến ở các nước Châu Âu, Châu Phi và nhiều nước Châu Á. Tuy nhiên, chứbg ăn vô độ thần kinh hiện nay đang phát triển ở những nước dân chủ thuộc khu vực Châu Âu như (Tây Ban Nha, Séc, Hungary…) Nói cách khác, có một sự liên hệ giữa thay đổi xã hội và nguyên nhân gây bệnh.

 

Chẩn đoán

 

Chẩn đoán chứng ăn vô độ thần kinh quả là một điều không mấy khó khăn. Tuy nhiên, để có thể điều trị căn bệnh một cách có hiệu quả, bệnh cần phải được đánh giá một cách chính xác. Bác sĩ chuyên khoa có nhiều thiết bị để đánh giá, chẳng hạn hình thức kiểm tra rối loạn ăn uống có thể giúp bệnh đánh giá căn bệnh một cách chính xác và mức độ nặng nhẹ của căn bệnh. Ngoài ra, còn có những thiết bị đánh giá khác. Sau lần đánh giá ban đầu, bác sĩ  muốn biết rõ hơn về căn bệnh và những triệu chứng khác có liên quan đến căn bệnh (lên cân, kinh nguyệt có vấn đề, thói quen ăn uống, dùng thuốc và có những hành vi bù đắp cho chứng ăn vô độ, hình dáng cơ thể, món ăn). Thêm vào đó, các chuyên gia có thể hỏi thêm bệnh nhân về các hình thức điều trị trước đây, điều kiện cơ thể, bị stress do gia đình hoặc không khí gia đình. Sau khi trả lời những câu hỏi trên, bệnh nhân sẽ phải làm một vài xét nghiệm để kiểm tra họ có mắc biến chứng nào hay không. Các xét nghiệm này bao gồm, xét nghiệm máu, kiểm tra Hormone, chất điện phân, tỉ trọng xương.

 

Tiến trình phát triển và tiên lượng bệnh

 

Tiên lượng chứng biếng ăn thần kinh

Tiên lượng chứng bệnh này vẫn chưa chắc chắn. Số người bị tử vong do căn bệnh này chiếm từ 5-18%. Có khoảng một nửa số người mắc chứng bệnh này có biểu hiện triệu chứng ăn vô độ thần kinh. Điều này dẫn đến một kết quả khả quan. Bệnh nhân nhập viện vì đói, số người nhập viện do yếu tố tâm lý giảm đi, bệnh nhân có lối suy nghĩ chín chắn hơn và tự tin hơn.

 

Tiên lượng chứng ăn vô độ thần kinh

Hiện nay, căn bệnh này không xảy ra trong một thời gian dài và có khoảng hơn một nửa bệnh nhân bình phục.

 

Biến chứng

 

Biến chứng của chứng biếng ăn thần kinh

Giảm cân và xuất hiện một vài triệu chứng như sau

A. Toàn thân yếu mệt

B. Chức năng tim mạch giảm

C. Rối loạn bao tử và ruột

D. Kinh nguyệt không đều và rối loạn Hormone

E. Xuất hiện lông tơ (giống như thời còn nhỏ) và bị phù

F. Bạch cầu giảm

G. Loãng xương

 

Biến chứng của chứng ăn vô độ thần kinh

Rối loạn ăn uống gây nhiều biến chứng. Biếng ăn thần kinh làm giảm cân, trong khi đó, biến chứng của chứng ăn vô độ thần kinh có liên quan đến việc ăn quá nhiều và những hành động bù đắp cho chứng ăn vô độ. Ví dụ, sau đây là một số biến chứng gây ra do ăn quá nhiều.

A. Bao tử phải căng quá đột ngột.

B. Đứt thực quản do ói, mất nước, nhiễm kiềm, thiếu chất điện phân, yếu đưối, kiệt sức, tim đập không đều, hư men răng và sâu răng, tuyến nước bọt giãn và lượng men phân giải tinh bột tăng trong máu.

C. Huyết áp giảm do chất gây nôn, mạch yếu, có vấn đề về điện tâm đồ, làm tăng Enzyme trong gan…

 

Điều trị

 

Điều trị chứng biếng ăn thần kinh

A. Điều quan trọng là bệnh nhân phải tích cực tham gia vào chương trình điều trị. Hầu hết, những người mắc chứng bệnh này thường phủ nhận và không chấp nhận mình mắc bệnh, chính vì thế bạn đừng mơ tưởng đến việc họ tự mình đi bệnh viện điều trị. Do đó, khuynh hướng của họ là không tự mình đi khám ở bệnh viện. Cho dù họ có cảm giác mệt muốn chết đi được hoặc họ sẵn sàng chấp nhận bất kỳ khó khăn tinh thần, thậm chí sẵn sàng chấp nhận đến nơi an nghỉ cuối cùng, họ vẫn quyết tâm không chịu đi khám bệnh. Khi triệu chứng phát triển quá nặng, bệnh nhân buộc phải điều trị trong một phòng dành riêng hoặc có thể áp dụng biện pháp điều trị không gây đau. Điều quan trọng là làm sao có thể khuyến kích bệnh nhân tích cực tham gia vào chương trình điều trị.

B. Điều quan trọng kế tiếp là ăn nhiều thức ăn có chứa nhiều chất dinh dưỡng. Bệnh nhân có thể theo sát một chế độ ăn uống để tăng cân. Nói chung, nếu họ điều trị tại bệnh viện, họ cũng phải mất từ 2-6 tháng.

C. Tâm lý trị liệu. Hành vi trị liệu là một phương pháp thường được áp dụng để điều trị chứng không muốn lên cân và chứng biếng ăn rất có hiệu quả. Phương pháp này được thực hiện theo từng giai đoạn. Gần đây, điều trị hành vi-nhận thức mới được phát triển. Trị liệu gia đình cũng đi kèm để giảm khoảng cách tình cảm và khó khăn giữa các thành viên trong gia đình.

D. Dược phẩm trị liệu không để lại nhiều tác dụng cụ thể nhưng một số bệnh nhân có biểu hiện triệu chứng trầm cảm có thể dùng thuốc. Một số loại thuốc đã được kiểm tra và chứng minh là thuốc chống trầm cảm, thuốc chống tâm thần ngăn chặn chất Serotonin.

 

Điều trị chứng ăn vô độ thần kinh

Điều trị chứng ăn vô độ thần kinh cho bệnh nhân ngoại trú và nội trú được phân loại như sau

- Bệnh nhân có ý định muốn tự tử

- Bệnh nhân nghiện rượu và ma túy

- Hoặc cơ thể bị biến chứng nặng hoặc có tiền sử mắc bệnh tâm lý, luật chung là bệnh nhân buộc phải nhập viện.

Một khi bệnh nhân nhập viện, bệnh nhân sẽ được bác sĩ kê đơn dựa vào chế độ ăn kiêng và chất dinh dưỡng, hành vi-nhận thức trị liệu, hành vi trị liệu, gia đình trị liệu và dược phẩm trị liệu.

 

A. Hành vi-nhận thức trị liệu

Sau đây là một số nguyên tắc quan trọng nhất điều trị chứng ăn vô độ thần kinh. Đối với bệnh nhân điều trị ngoại trú, họ phải mất khoảng 5 tháng và được phân thành 3 giai đoạn, tổng cộng là 19 lần điều trị.

 

Thành phần chính của hành vi-nhận thứ trị liệu

1. Giai đoạn 1 (Điều trị trong vòng 4 tuần, mỗi tuần 2 lần)

Giải thích về hành vi-nhận thức trị liệu, lấy lại chế độ ăn uống điều độ và ổn định, nghi lại tất cả những gì xảy ra trong suốt bữa ăn (những suy nghĩ, cảm xúc của mình trong khi ăn), cố gắng hình thành thói quen ăn uống điều độ thay vì ăn uống vô độ, chơi thể thao hoặc tham gia hoạt động nào đó để giúp bạn chống lại thèm ăn và nên tham dự khóa học về thực phẩm, bữa ăn, dáng người và cân nặng.

 

2. Bước 2 (Điều trị trong vòng 8 tuần, mỗi tuần 1 lần)

Bước 2 tiếp nối tiếp với bước thứ nhất, tiếp tục chỉnh đốn lại nhận thức sai lầm của bệnh nhân về bữa ăn. Ở giai đoạn này, bác sĩ khuyên bệnh nhân nên ăn những món ăn mà họ không cảm thấy ngon miệng, chính vì thế họ dần dần bước vào một chế độ ăn uống chặt chẽ hơn với nhiều hình thức khác nhau. Tương tự như vậy, bệnh nhân dần dần nắm bắt và phát huy được kỹ thuật đối phó với chứng ăn vô độ. Bệnh nhân cũng nhận ra nhận thức sai lầm của mình và cố gắng sửa đổi. Nguyên nhân gây ra chứng ăn vô độ và vai trò của gia đình cũng được nhận thức ở giai đoạn này.

 

3. Giai đoạn 3 (Điều trị trong vòng 8 tuần, mỗi tuần 1 lần)

Mục đích của giai đoạn này là duy trì hiệu quả của việc điều trị. Giai đoạn này giúp bệnh nhân chuẩn bị cho tương lai bao gồm điều họ mong đợi và kế hoạch phòng ngừa bệnh tái phát.

 

B. Dược phẩm trị liệu

Kể từ khi Harrison và James thuộc trường Đại Học Harvard cho biết tác dụng của thuốc chống trầm cảm được đề cập trong sách có tên “Niềm Hy Vọng Mới Về Chứng Ăn Vô Độ” xuất bản năm 1984, loại thuốc này được nhiều người yêu chuộng. Uống thuốc trầm cảm sẽ giúp bạn giảm bớt một nửa căn bệnh; bạn sẽ ăn ít đi và việc nôn mửa cũng giảm. Thuốc chống trầm cảm không có tác dụng đối với bệnh nhân mắc chứng ăn vô độ bị trầm cảm. Tuy nhiên, điều trị bằng dược phẩm cũng chỉ có thể đạt đến một giới hạn nào đó, chính vì thế hiện nay người ta chỉ áp dụng biện pháp này cho bệnh nhân có biểu hiện rõ triệu chứng trầm cảm hoặc khi hành vi-nhận thức trị liệu không có tác dụng. Thông thường, thuốc chống trầm cảm và MonoAmin Oxide Inhibitor (MAOI) đều có tác dụng giống nhau và bạn chỉ nên dùng 60mg thuốc Fluoxetine trong một ngày.

 

Phòng ngừa

 

Phòng ngừa chứng biếng ăn thần kinh

Hiện nay vẫn chưa có phương pháp cụ thể để phòng ngừa chứng biếng ăn thần kinh.

 

Phòng ngừa chứng ăn vô độ thần kinh

Hiện nay vẫn chưa có phương pháp chính xác phòng ngừa chứng ăn vô độ thần kinh. Tuy nhiên, điều quan trọng nhất là quá chú tâm đến cân nặng và hình dáng cơ thể sẽ làm cho bạn ăn nhiều và có những hành vi bù đắp cho chứng ăn vô độ. Chính vì thế, nếu bạn quyết định ăn kiêng, bạn nên thực hiện một cách điều độ. Bên cạnh đó, dùng thuốc nhuận trường hoặc thuốc lợi tiểu quả là một điều không tốt. Quan trọng là bạn nên có một chế độ ăn uống điều độ và đúng đắn. Ví dụ, ăn trong vòng 5 phút là một thói quen không tốt, tương tự như vậy, ăn uống vội vã cũng là một điều không nên làm.

 

Tham khảo ý kiến bác sĩ trong những trường hợp sau

 

Biếng ăn thần kinh

Mặc dù ngày nay, nhiều thanh thiếu niên có số cân trung bình, nhưng họ lại có khuynh hướng nghĩ mình quá mập. Điều này buộc họ phải theo chế độ ăn uống không đúng. Nếu thật sự bạn muốn ăn kiêng, tốt nhất bạn nên tham khảo ý kiến bác sĩ chuyên khoa. Thông thường, mật độ béo phì của một người được tính theo chỉ số cân nặng BMI (Body Mass Index). BMI được tính bằng cách chia trọng lượng của một người (kg) cho bình phương chiều cao cơ thể (m). Kết quả này đạt từ 20-25 được coi là trung bình, 17-18 được xem là gầy. Ví dụ, một người có chiều cao là 160cm, cân nặng 40kg. Tỉ số BMI được tính như sau: 40/(1.6x1.6)=15.6, kết quả này cho thấy người này gầy. Nếu một thanh thiếu niên có chỉ số BMI như trên và không chịu ăn uống vì sợ có một thân hình xấu hoặc nghĩ rằng mình không nên tăng cân, bạn phải mang con em đến gặp bác sĩ chuyên khoa.

 

Chứng ăn vô độ thần kinh

- Một người được xem là mắc chứng ăn vô độ thần kinh khi người đó có những thói quen ăn nhiều và không thể kiềm chế được lượng thức ăn.

- Khi bạn quá lo lắng về thân hình, họ sẵn sàng ăn kiêng vì họ nghĩ rằng, họ quá mập mặc dù mực cân của họ ở mức độ trung bình. Chúng tôi khuyên bạn nên đi tham khảo ý kiến bác sĩ chuyên khoa.

Sắc đẹp & Phong cáchUng thư và Phòng ngừaLối sống lành mạnhSức khỏe tinh thần và stressGiới tính Nam/NữChủ đề nóng bỏng
ⓒ2007 HIDOC, Inc. All rights reserved. HIDOC does not provide medical advice, diagnosis or treatment. See additional information.